7 học thuyết về học ngôn ngữ của các triết gia

Ngôn ngữ là một công cụ mà loài người sử dụng mỗi ngày để bày tỏ sự đa dạng của cảm xúc, ý tưởng, khái niệm, và hành vi. Việc học ngôn ngữ thứ hai đã và luôn bị coi là một việc không đơn giản, khó hơn nhiều so với cách chúng ta học ngôn ngữ thứ nhất, hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ.

Đó là một suy nghĩ phổ biến, nhưng e là không được đúng cho lắm.

Ta phải học tập rất chăm chỉ để hiểu những gì mọi người quanh ta đang nói tới. Nó không xảy ra chỉ sau một đêm khi ta ngủ, vì thế đừng mong việc học ngôn ngữ dễ. Thực tế thì, nếu chỉ trong một vài năm mà bạn đã có thể thoải mái tự tin sử dụng một ngôn ngữ mới, như vậy thì việc học ngôn ngữ đó đã dễ hơn so với ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) của bạn. Hãy nhớ rằng, bạn vẫn còn học ngôn ngữ mẹ đẻ khi học đến cấp 3, bạn chưa thực sự giỏi như bạn nghĩ đâu ha.

learning-theories

Để học một ngôn ngữ mới nhanh hơn, bạn có thể sẽ phải tìm những học thuyết về ngôn ngữ đúng. Công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta học nhanh hơn qua từng giai đoạn, nhưng đó không phải là thứ duy nhất bạn cần, trên thực tế thì hiệu ứng của nó sẽ nhiều nhất ở lúc mới bắt đầu. Việc nhận ra điều đó sẽ giúp bạn đi nhanh hơn nhiều người. Không có cách nào tốt hơn việc nói về một học thuyết ngôn ngữ với một người hiểu về điều đó. Họ sẽ giúp ta hiểu vì sao và như thế nào mà chúng ta hiểu và suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Cuối cùng, việc đó chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta biết nơi mà suy nghĩ của ta nên ở để có thể thu lượm được nhiều kinh nghiệm học ngôn ngữ nhất.

Hãy cùng xem những triết gia dưới đây nói về việc học ngôn ngữ như nào nhé.

 

 

1/ Plato: một trong những cái tên vĩ đại nhất của triết học phương Tây

Người đời hầu hết biết tới Plato như một triết gia, ít ai biết rằng ông ấy cũng có rất nhiều suy nghĩ thú vị về ngôn ngữ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả vì ngôn ngữ chính là công cụ đắc lực để ông ấy trở thành một triết gia nổi tiếng.

Plato tin rằng kiến thức là thứ gì đó đơn giản là loài người có, nó là tự nhiên, là bẩm sinh. Ý tưởng của Plato gợi lên một vấn đề Plato, khi mà ông ấy tự hỏi bằng cách nào mà con người lại có thể đạt được rất nhiều thành tích, thành tựu với rất ít thời gian cho phép. Ngôn ngữ là một yếu tố tự nhiên, thiên bẩm của con người, và điều đó lý giải tại sao hầu hết loài người có khả năng bắt đầu nói trước khi tổ chức sinh nhật lần thứ 10.

Khi ta cân nhắc cho rằng ngôn ngữ là một phần của quá trình suy nghĩ, nó sẽ đáng lo ngại hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản là học một cách nghĩ khác những suy nghĩ sẵn có trong đầu ta.

 

 

2/ Descartes và học thuyết ngôn ngữ Cartesian

Descartes tin theo ý tưởng của Plato rằng ngôn ngữ chỉ đơn giản là một thứ gì đó con người tự nhiên có. Niềm tin ấy dựa vào niềm tin thực tế cho rằng con người là những tạo vật được tạo ra một cách đúng đắn trên quy mô rộng, và ngôn ngữ là thứ phải có để tương tác với nhau.

Sự vận động của Descartes ở chỗ niềm tin của ông phản ánh thực tế là ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Vấn còn đó rất nhiều điểm chung giống nhau giữa những ngôn ngữ ít giống nhau nhất. Nghe thật phấn khích bởi vì điều đó có nghĩa là bạn có thể tìm thấy điểm chung giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ mà bạn đang có ý định học để bắt đầu hiểu ngôn ngữ được “vận động” như nào.

 

 

3/ Locke và Tabula Rasa

Có thể bạn đã từng nghe về khái niệm “bảng trắng” được đưa ra bởi Locke. Điều đó cho thấy Locke không đồng tình với ý kiến cho rằng mọi thứ là tự nhiên biết. Mọi người bắt đầu với một tấm bảng trắng mà họ sẽ phải điền vào, dĩ nhiên, ngôn ngữ cũng phải học. Mọi thứ đều phải được học từ các giác quan tri nhận. Thôi thì không có gì phải buồn vì chúng ta sẽ tin rằng ai cũng sẽ bắt đầu từ con số 0 để đến với ngôn ngữ mục tiêu mà mình muốn học.

 

 

Ba triết gia này chủ yếu thảo luận về ngôn ngữ trong quá trình chuyển tiếp, chứ không phải đề cập đến nhiều chi tiết cụ thể. Bốn học thuyết sau sẽ nói nhiều hơn đến ngôn ngữ cụ thể.

 

 

4/ Skinner và lý thuyết hành vi (Behaviorism)

Skinner đồng ý với Locke và ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về lý thuyết hành vi. Lý thuyết đó cho rằng tất cả các hành vi là sự phản hồi của các tác nhân kích thích quanh ta. Skinner ứng dụng lý thuyết đó trong học ngôn ngữ thông qua hoạt động có điều kiện, sử dụng sự nhấn mạnh và các hình phạt để dạy. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cha mẹ thường từ chối yêu cầu của trẻ con cho đến khi chúng nói “làm ơn”. Phần thưởng là nhận được thứ chúng muốn, và ý tưởng của việc nói “làm ơn” được nhấn mạnh thông qua phần thưởng.

Lý thuyết hành vi nói rằng chúng ta cần phản hồi để thành công, kể cả việc học ngôn ngữ.

 

 

5/ Chomsky và Universal Grammar

Noam Chomsky phát triển ý tưởng riêng của ông ay trong khi Skinner đang phát triển học thuyết hành vi. Chomsky phát triển thuyết “vũ trụ ngữ pháp”. Nó gần như đối lập với học thuyết của Skinner. Chomsky tin rằng ít nhất thì con người cũng có một chút gì đó khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ. Bằng chứng mà ông đưa ra là một số yếu tố mang tính “vũ trụ” có trong tất cả các ngôn ngữ.

Trong khi học thuyết của Chomsky lý giải nhiều hơn cho việc học ngôn ngữ đầu tiên, nó không có thực sự được áp dụng trong khi nói về việc học ngôn ngữ thứ hai. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng có những yếu tố tương đồng nhau, nhưng không có gì cụ thể giúp cho việc học ngôn ngữ không còn chẳng liên quan gì tới nhau nữa.

 

 

6/ Schumann và mô hình hội nhập

John Schumann đặc biệt quan tâm tới việc những người nhập cư học ngôn ngữ mới ở nơi họ chuyển tới. Học thuyết của ông ấy có tên là “Mô hình hội nhập” và chỉ ra các vấn đề về ngôn ngữ cụ thể hơn nhiều so với các học thuyết khác. Thay vì nghĩ về việc học ngôn ngữ cho vui, ông ta đã xem xét nó khi nó là một việc thiết yếu. Những người nhập cư học một ngôn ngữ mới với nhiều áp lực hơn từ cộng đồng và yếu tố tâm lý. Thường hoặc là thành công, không thì thất bại.

Nếu một người nhập cư có khả năng ngôn ngữ gần hòa nhập với ngôn ngữ ở ngôi nhà mới của họ, họ sẽ được cho là có nhiều khả năng học ngôn ngữ hơn. Điều tương tự cũng đúng nếu yếu tố văn hóa tương đồng. Điểm này chỉ ra rằng có rất nhiều lý do tâm lý và lý do mang tính xã hội cho việc học một ngôn ngữ, ý tưởng mà các triết gia trước đó chưa từng để ý tới.

 

 

7/ Krashen và “mô hình giám sát”

Stephen Krashen biên soạn một vài học thuyết về ngôn ngữ trong đó có những thuyết vẫn còn được sử dụng đến nay để mô tả việc học một ngôn ngữ thứ 2. Những ý kiến chính sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những học thuyết của ông ấy.

  • Tiếp thu một ngôn ngữ thì phần lớn là vô thức bởi vì nguồn gốc của việc học ngôn ngữ đến từ các cuộc hội thoại chính thống và không chính thống.
  • Việc học một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều nỗ lực một cách có ý thức và phụ thuộc nhiều vào sự “chữa lỗi” một cách nghiêm chỉnh.
  • Ngữ pháp thì chủ yếu được học theo một chuỗi có thể đoán được và có thứ tự
  • Tiếp thu một ngôn ngữ xảy ra khi nó được bắt nguồn từ đầu vào dễ hiểu, ví dụ như trò chuyện hoặc đọc.
  • Một người giám sát có thể là bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì chữa lỗi sai ngôn ngữ cho bạn và tạo áp lực cho bạn phải điều chỉnh nó.

Phần cơ bản lấy từ học thuyết nói rằng tiếp thu và học ngôn ngữ là khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm các yếu tố giống nhau. Việc chữa lỗi là cần thiết cho cả tiếp thu và học ngôn ngữ.

 

 

Trong khi không có học thuyết nào thực sự giúp bạn học một ngôn ngữ, nhưng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi biết rằng kể cả kiến thức về việc học một ngôn ngữ cũng vẫn còn đó để thảo luận. Bạn có thể cảm thấy một hoặc vài trong số các học thuyết nêu trên gần tương đồng với những điều mà bạn đang làm để học ngôn ngữ, và biết đâu điều đó có thể giúp bạn hiểu hơn để sử dụng các học thuyết đó giúp cho quá trình học ngôn ngữ của các bạn nhanh hơn và hiệu quả hơn.

 

MLEC chúc các bạn học tốt, và sớm thành công.

 

Source: https://www.optilingo.com/blogs/news/7-language-learning-theories-by-the-masters-of-thought

 

April, 2017