[Học TA] Học phát âm với tongue twisters

Phát âm là một phần rất thú vị, nhưng cũng không dễ học. Hôm nay, hãy cùng MLEC tìm hiểu một “trò” thú vị để học phát âm nhé.

328550

 

Có rất nhiều cách học tiếng Anh, rất nhiều phương pháp, chiến thuật khác nhau, và một thứ mà mọi người đánh giá rất cao là một trong những điều tiên quyết phải học khi bắt đầu học Tiếng Anh, đó chính là phát âm. Trong buổi chia sẻ hôm nay, mình sẽ nói về cách học phát âm sử dụng tongue twister.

Trước khi vào bài, phòng trường hợp các bạn chưa biết, mình giới thiệu về IPA, và tongue twister.

IPA là viết tắt của International Phonetics Alphabet, tức là bảng phiên âm quốc tế. Hiểu vậy thôi còn ai muốn tìm hiểu sâu hơn thì xin mời Google. IPA dành cho việc học tiếng Anh (cho người lớn) gồm có 44 âm, trong đó có 24 phụ âm, 12 nguyên âm đơn và 8 nguyên âm đôi. Tham khảo thêm tại www.google.com

Chắc hẳn các bạn chả lạ gì mấy câu như “con lươn nó luồn qua lườn em” “lúa nếp là lúa nếp làng, lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng” “ông bụt chùa Bùi cầm bùa đuổi chuột”, …vân vân và mây mây…

Rất nhiều những câu nói giúp chúng ta “luyện lưỡi” trong tiếng Việt, và tiếng Anh cũng thế. Hãy thử xem một số câu dưới đây xem sao nhé

  • She sells sea shell by the seashore
  • Four furious friends fought for the phone
  • Five frantic frogs fled from fifty fierce fishes.
  • Susie sits shinning silver shoes

Và trước khi xem chúng ta sẽ học những tongue twister kia như nào, thì hãy điểm qua những âm khó, và khác tiếng Việt trong tiếng Anh nhé.

  • Nhóm bất tận: là nhóm các âm khi được phát âm ra từ lúc bắt đầu cho đến khi hết hơi trong miệng, khẩu hình không đổi, âm không đổi, thường là các âm “gió”, bao gồm: f, v, s, z, sh, sh,
    Khó ở đây là vì không kiểm soát được hơi thở, nên đôi khi sẽ bị chưa tự nhiên.
  • Nhóm “dẩu môi”: là các âm phải chu mỏ, dẩu môi, tiếng Việt không có hành động này trong phát âm, nên các bạn sẽ thấy lạ, và thấy ngại, nên sẽ khó, âm này gồm có: sh, sh, ch, ch
  • Nhóm lè lưỡi: là nhóm âm khi nói phải đặt đầu lưỡi ra ngoài, trò ngày cũng khá là kỳ cục, tiếng Việt không có, nên khi nói, các bạn gặp khó khăn, gồm: th, th
  • Nhóm âm bật: là nhóm các âm mà hơi phải được đi từ bụng lên cổ họng, lưu lại và bật ra, hoặc từ trong khoang miệng, hoặc bật ra ở đầu môi, ở họng luôn cũng có ví dụ như các âm, p, b là bật do mím môi, t, d là bật do chuyển động lưỡi, hay k, g là bật hơi từ trong họng ra, hay ch, ch là bật hơi với khẩu hình miệng đặc biệt.
  • Phần còn lại cơ bản cho vào nhóm khác, tuy nhiên nếu cố gắng thì có thể nhóm l và n vào 1 nhóm mà đầu lưỡi sẽ để lên trên. Các bạn thử phát âm âm l mà xem, chậm thôi, và để ý xem lưỡi mình ở đâu nhé.
  • Các âm còn sót, m, ng, h, r, w, j

Và khi đi qua những nhóm âm trên và ghi nhận sự khác biệt của chúng so với tiếng Việt, bạn hãy thực hành phát âm chuẩn các câu sau đây, luyện tập cho đến khi có thể thuận miệng và nói tự nhiên.

Nhóm bất tận: f, v, s, z, sh, sh

I saw a saw that could out saw any other saw I ever saw.

A sailor went to sea to see, what he could see. And all he could see Was sea, sea, sea.

Six slippery snails, slid slowly seaward.

Vincent vowed vengeance very vehemently

Four furious friends fought for the phone

Five frantic frogs fled from fifty fierce fishes.

Susie sits shinning silver shoes

Six socks sit in a sink, soaking in soap suds
Shave a single shingle thin.
I saw Susie sitting in a shoe shine shop.

Nhóm dẩu môi: sh, sh, ch, ch

She should shun the shinning sun.

She sold six shabby sheared sheep on ship.

Susie sits shinning silver shoes

She sees cheese.

Nhóm lè lưỡi: th, th

Nhóm âm bật: p, b, t, d, k, g, ch, ch

If a black bug bleeds black blood, what color blood does a blue bug bleed?

Growing gray goats graze great green grassy groves.

The cat catchers can’t catch caught cats.

Cooks cook cupcakes quickly.
Twelve twins twirled twelve twigs.

10.        Crisp crusts crackle and crunch.

29.        The bottom of the butter bucket is the buttered bucket bottom.

1.        Green glass globes glow greenly.

2.        Clean clams crammed in clean cans

47.        Bake big batches of bitter brown bread.

Nhóm còn lại: l, n, m, ng, h, r, w, j

If two witches were watching two watches: which witch would watch which watch?

11.        Round the rugged rocks the ragged rascals ran.

6.        How much wood could a wood chuck; chuck if a wood chuck could chuck wood

33.        Little Lillian lets lazy lizards lie along the lily pads

1.        Many mumbling mice are making merry music in the moonlight.

2.        No need to light a night-light on a light night like tonight.

Phần cuối bài này mình sẽ dành cho các bạn một khoảng không gian để tự tạo tongue twister nhé. Lấy giấy bút ra và bắt đầu nào. (Đợi phần 2 nhé)

 

MLEC, July 2017

[Học TA] 4 cách vượt qua thử thách khi học ngoại ngữ!!!

Chúng ta đều biết rằng việc học một ngoại ngữ là không dễ và chúng ta thường xuyên gặp vấn đề ngay từ đầu. Vì thế, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ với các bạn một vài “kỹ thuật” để giúp tăng tốc và cải thiện hiệu quả việc học ngôn ngữ của bạn. Hãy theo đuổi những bước dưới đây để trở thành một chuyên gia ngôn ngữ.
logo-challa
Có đoán ra được gì không? Chúng ta cần gì để cải thiện ngôn ngữ và trở nên lưu loát?

Ở đây có một vài điều thú vị

1/ Hãy sẵn sàng để mắc lỗi
Chúng ta thường thích ngồi yên lặng vì sự lo lắng về những gì người khác nghĩ về chúng ta khi chúng ta không phát âm chính xác 100%, sẽ khiến chúng ta sợ hãi. Lỗi tư duy này khiến chúng ta không sẵn sàng để luyện tập để trở nên khá hơn.
Sự tập trung của chúng ta nên dành cho việc giao tiếp là ưu tiên hàng đầu. Nếu chúng ta kiểm soát việc giao tiếp, điều đó thật tuyệt, không cần phải hoàn hảo đâu.
Chúng ta không học được gì cho đến khi chúng ta bắt đầu nói. Kể cả khi chúng ta không có bất kỳ từ nào trong đầu, chúng ta có thể chỉ cần lựa ra vài từ quan trọng và bắt đầu với chúng. Bằng cách này, mọi người có thể cười chúng ta trước hết, nhưng chả sao. Thi thoảng, chúng ta cảm thấy bị xúc phạm và làm nhụt chí, chả sao cả. Hãy thoát khỏi sợ hãi và tiếp tục mắc lỗi.

2/ Phát âm là “chìa khóa” và đừng “hối thúc”
Một thứ rất quan trọng để quan sát khi nói chuyện với 1 người bản ngữ là lưu ý đến phát âm của họ và lặp lại những từ đó rất nhiều lần. Cách tốt nhất để trở nên thoải mái với ngôn ngữ là sử dụng nó. Càng dùng nhiều, bạn càng cảm thấy dễ dàng hơn để tìm ra từ phù hợp để tạo ra câu phù họp và phát âm từng từ từng chữ một cách chính xác, rõ ràng
Chúng ta cần bắt đầu bằng đặt những câu nhỏ để tránh cảm giác lúng túng và sự lắp bắp. Việc một người mới học bối rối khi nói tiếng Anh là một vấn đề thường thấy. Vì thế việc chúng ta phải làm là phát âm từng từ một cách chính xác. Chúng ta cần tập trung và phát âm đúng hơn là tập trung vào nói nhanh.

Tham khảo công cụ cải thiện phát âm chuẩn Mỹ: https://vi.englishcentral.com/teach#!/manage/index/53669-englishcentral-vit-nam/49400-mister-luu-english-class

3/ Bắt đầu nghĩ bằng ngôn ngữ đó và tự thoại
Nghe “ngu” nhở. Nhưng mà không hẳn đâu. Nếu bạn thực sự có một thói quen tự thoại, hãy thử tự thoại bằng thứ ngôn ngữ bạn đang muốn học đi. Làm vậy sẽ giúp bạn từ từ vượt qua sự xấu hổ để nói bằng ngôn ngữ đó. Và chắc chắn là bạn cũng sẽ có thêm tự tin khi nói nữa.
Ghi âm hoặc ghi hình lại để xem các biểu cảm trên gương mặt bạn rồi cố gắng cải thiện tông giọng, và phát âm.

Đọc thêm về độc thoại: https://tuanvuluu.wordpress.com/2016/12/26/tu-hoc-gioi-tieng-anh-doc-thoai/

4/ Luyện tập với người bản ngữ
Khi học một ngôn ngữ mới, chúng ta thường thấy bản thân luyện tập nói với những người không phải là người bản ngữ, điều đó dẫn đến 2 vấn đề như này
a/ Vấn đề thứ nhất: người đó có thể vẫn mắc lỗi mà bạn không biết, trong tương lai bạn có thể mắc phải lỗi tương tự.
b/ Điều thứ hai là việc phát âm của bạn có thể sẽ bị ảnh hưởng đối với một số từ.
Một cách tốt để tránh những vấn đề này là hãy chắc chắn rằng bạn có cơ hội thực hành với một người bản ngữ.

Đăng ký để được tư vấn thêm tại: http://bit.do/nativeonline-scout

MLEC June 2017

7 học thuyết về học ngôn ngữ của các triết gia

Ngôn ngữ là một công cụ mà loài người sử dụng mỗi ngày để bày tỏ sự đa dạng của cảm xúc, ý tưởng, khái niệm, và hành vi. Việc học ngôn ngữ thứ hai đã và luôn bị coi là một việc không đơn giản, khó hơn nhiều so với cách chúng ta học ngôn ngữ thứ nhất, hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ.

Đó là một suy nghĩ phổ biến, nhưng e là không được đúng cho lắm.

Ta phải học tập rất chăm chỉ để hiểu những gì mọi người quanh ta đang nói tới. Nó không xảy ra chỉ sau một đêm khi ta ngủ, vì thế đừng mong việc học ngôn ngữ dễ. Thực tế thì, nếu chỉ trong một vài năm mà bạn đã có thể thoải mái tự tin sử dụng một ngôn ngữ mới, như vậy thì việc học ngôn ngữ đó đã dễ hơn so với ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) của bạn. Hãy nhớ rằng, bạn vẫn còn học ngôn ngữ mẹ đẻ khi học đến cấp 3, bạn chưa thực sự giỏi như bạn nghĩ đâu ha.

learning-theories

Để học một ngôn ngữ mới nhanh hơn, bạn có thể sẽ phải tìm những học thuyết về ngôn ngữ đúng. Công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta học nhanh hơn qua từng giai đoạn, nhưng đó không phải là thứ duy nhất bạn cần, trên thực tế thì hiệu ứng của nó sẽ nhiều nhất ở lúc mới bắt đầu. Việc nhận ra điều đó sẽ giúp bạn đi nhanh hơn nhiều người. Không có cách nào tốt hơn việc nói về một học thuyết ngôn ngữ với một người hiểu về điều đó. Họ sẽ giúp ta hiểu vì sao và như thế nào mà chúng ta hiểu và suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Cuối cùng, việc đó chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta biết nơi mà suy nghĩ của ta nên ở để có thể thu lượm được nhiều kinh nghiệm học ngôn ngữ nhất.

Hãy cùng xem những triết gia dưới đây nói về việc học ngôn ngữ như nào nhé.

 

 

1/ Plato: một trong những cái tên vĩ đại nhất của triết học phương Tây

Người đời hầu hết biết tới Plato như một triết gia, ít ai biết rằng ông ấy cũng có rất nhiều suy nghĩ thú vị về ngôn ngữ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả vì ngôn ngữ chính là công cụ đắc lực để ông ấy trở thành một triết gia nổi tiếng.

Plato tin rằng kiến thức là thứ gì đó đơn giản là loài người có, nó là tự nhiên, là bẩm sinh. Ý tưởng của Plato gợi lên một vấn đề Plato, khi mà ông ấy tự hỏi bằng cách nào mà con người lại có thể đạt được rất nhiều thành tích, thành tựu với rất ít thời gian cho phép. Ngôn ngữ là một yếu tố tự nhiên, thiên bẩm của con người, và điều đó lý giải tại sao hầu hết loài người có khả năng bắt đầu nói trước khi tổ chức sinh nhật lần thứ 10.

Khi ta cân nhắc cho rằng ngôn ngữ là một phần của quá trình suy nghĩ, nó sẽ đáng lo ngại hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản là học một cách nghĩ khác những suy nghĩ sẵn có trong đầu ta.

 

 

2/ Descartes và học thuyết ngôn ngữ Cartesian

Descartes tin theo ý tưởng của Plato rằng ngôn ngữ chỉ đơn giản là một thứ gì đó con người tự nhiên có. Niềm tin ấy dựa vào niềm tin thực tế cho rằng con người là những tạo vật được tạo ra một cách đúng đắn trên quy mô rộng, và ngôn ngữ là thứ phải có để tương tác với nhau.

Sự vận động của Descartes ở chỗ niềm tin của ông phản ánh thực tế là ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Vấn còn đó rất nhiều điểm chung giống nhau giữa những ngôn ngữ ít giống nhau nhất. Nghe thật phấn khích bởi vì điều đó có nghĩa là bạn có thể tìm thấy điểm chung giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ mà bạn đang có ý định học để bắt đầu hiểu ngôn ngữ được “vận động” như nào.

 

 

3/ Locke và Tabula Rasa

Có thể bạn đã từng nghe về khái niệm “bảng trắng” được đưa ra bởi Locke. Điều đó cho thấy Locke không đồng tình với ý kiến cho rằng mọi thứ là tự nhiên biết. Mọi người bắt đầu với một tấm bảng trắng mà họ sẽ phải điền vào, dĩ nhiên, ngôn ngữ cũng phải học. Mọi thứ đều phải được học từ các giác quan tri nhận. Thôi thì không có gì phải buồn vì chúng ta sẽ tin rằng ai cũng sẽ bắt đầu từ con số 0 để đến với ngôn ngữ mục tiêu mà mình muốn học.

 

 

Ba triết gia này chủ yếu thảo luận về ngôn ngữ trong quá trình chuyển tiếp, chứ không phải đề cập đến nhiều chi tiết cụ thể. Bốn học thuyết sau sẽ nói nhiều hơn đến ngôn ngữ cụ thể.

 

 

4/ Skinner và lý thuyết hành vi (Behaviorism)

Skinner đồng ý với Locke và ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về lý thuyết hành vi. Lý thuyết đó cho rằng tất cả các hành vi là sự phản hồi của các tác nhân kích thích quanh ta. Skinner ứng dụng lý thuyết đó trong học ngôn ngữ thông qua hoạt động có điều kiện, sử dụng sự nhấn mạnh và các hình phạt để dạy. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cha mẹ thường từ chối yêu cầu của trẻ con cho đến khi chúng nói “làm ơn”. Phần thưởng là nhận được thứ chúng muốn, và ý tưởng của việc nói “làm ơn” được nhấn mạnh thông qua phần thưởng.

Lý thuyết hành vi nói rằng chúng ta cần phản hồi để thành công, kể cả việc học ngôn ngữ.

 

 

5/ Chomsky và Universal Grammar

Noam Chomsky phát triển ý tưởng riêng của ông ay trong khi Skinner đang phát triển học thuyết hành vi. Chomsky phát triển thuyết “vũ trụ ngữ pháp”. Nó gần như đối lập với học thuyết của Skinner. Chomsky tin rằng ít nhất thì con người cũng có một chút gì đó khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ. Bằng chứng mà ông đưa ra là một số yếu tố mang tính “vũ trụ” có trong tất cả các ngôn ngữ.

Trong khi học thuyết của Chomsky lý giải nhiều hơn cho việc học ngôn ngữ đầu tiên, nó không có thực sự được áp dụng trong khi nói về việc học ngôn ngữ thứ hai. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng có những yếu tố tương đồng nhau, nhưng không có gì cụ thể giúp cho việc học ngôn ngữ không còn chẳng liên quan gì tới nhau nữa.

 

 

6/ Schumann và mô hình hội nhập

John Schumann đặc biệt quan tâm tới việc những người nhập cư học ngôn ngữ mới ở nơi họ chuyển tới. Học thuyết của ông ấy có tên là “Mô hình hội nhập” và chỉ ra các vấn đề về ngôn ngữ cụ thể hơn nhiều so với các học thuyết khác. Thay vì nghĩ về việc học ngôn ngữ cho vui, ông ta đã xem xét nó khi nó là một việc thiết yếu. Những người nhập cư học một ngôn ngữ mới với nhiều áp lực hơn từ cộng đồng và yếu tố tâm lý. Thường hoặc là thành công, không thì thất bại.

Nếu một người nhập cư có khả năng ngôn ngữ gần hòa nhập với ngôn ngữ ở ngôi nhà mới của họ, họ sẽ được cho là có nhiều khả năng học ngôn ngữ hơn. Điều tương tự cũng đúng nếu yếu tố văn hóa tương đồng. Điểm này chỉ ra rằng có rất nhiều lý do tâm lý và lý do mang tính xã hội cho việc học một ngôn ngữ, ý tưởng mà các triết gia trước đó chưa từng để ý tới.

 

 

7/ Krashen và “mô hình giám sát”

Stephen Krashen biên soạn một vài học thuyết về ngôn ngữ trong đó có những thuyết vẫn còn được sử dụng đến nay để mô tả việc học một ngôn ngữ thứ 2. Những ý kiến chính sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những học thuyết của ông ấy.

  • Tiếp thu một ngôn ngữ thì phần lớn là vô thức bởi vì nguồn gốc của việc học ngôn ngữ đến từ các cuộc hội thoại chính thống và không chính thống.
  • Việc học một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều nỗ lực một cách có ý thức và phụ thuộc nhiều vào sự “chữa lỗi” một cách nghiêm chỉnh.
  • Ngữ pháp thì chủ yếu được học theo một chuỗi có thể đoán được và có thứ tự
  • Tiếp thu một ngôn ngữ xảy ra khi nó được bắt nguồn từ đầu vào dễ hiểu, ví dụ như trò chuyện hoặc đọc.
  • Một người giám sát có thể là bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì chữa lỗi sai ngôn ngữ cho bạn và tạo áp lực cho bạn phải điều chỉnh nó.

Phần cơ bản lấy từ học thuyết nói rằng tiếp thu và học ngôn ngữ là khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm các yếu tố giống nhau. Việc chữa lỗi là cần thiết cho cả tiếp thu và học ngôn ngữ.

 

 

Trong khi không có học thuyết nào thực sự giúp bạn học một ngôn ngữ, nhưng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi biết rằng kể cả kiến thức về việc học một ngôn ngữ cũng vẫn còn đó để thảo luận. Bạn có thể cảm thấy một hoặc vài trong số các học thuyết nêu trên gần tương đồng với những điều mà bạn đang làm để học ngôn ngữ, và biết đâu điều đó có thể giúp bạn hiểu hơn để sử dụng các học thuyết đó giúp cho quá trình học ngôn ngữ của các bạn nhanh hơn và hiệu quả hơn.

 

MLEC chúc các bạn học tốt, và sớm thành công.

 

Source: https://www.optilingo.com/blogs/news/7-language-learning-theories-by-the-masters-of-thought

 

April, 2017

Học tiếng Anh có giống chọn bạn gái không?

Giống không? Giống! Giống sao?

  1. Tiếng Anh thì cũng có rất nhiều “loại” tiếng Anh, giống như có rất nhiều “mẫu” con gái cho các bạn chọn vậy
  2. Và khi bạn chọn tiếng Anh rồi, bạn có thể “chia tay” và chọn lại, nhưng hầu như bạn nên “chung thủy”.
  3. Khi mới bắt đầu, bạn sẽ rất hứng thú với cả tiếng Anh, cũng như với người bạn gái mới của mình.
  4. Việc học sẽ càng ngày càng chán, như bạn cũng biết, nếu như bạn không tìm ra được những điều mới quanh đó/cô ấy mỗi ngày.
  5. Bạn sẽ học tiếng Anh với “kinh nghiệm” của người đi trước, hoặc dò dẫm tự học, như việc yêu cũng vậy.
  6. Niềm vui, nỗi buồn, và cả những giận hờn đến mức muốn “vứt hết đi” sẽ cho bạn những cung bậc cảm xúc hình supersin khi yêu, cũng như khi học tiếng Anh.
  7. Chia tay lên xuống vài lần, hoặc chỉ một lần dứt áo ra đi.
  8. Tình yêu vĩnh cửu, nhưng người yêu thì thay đổi, cũng giống như tiếng Anh là nhu cầu ai cũng có, nhưng học theo phương pháp nào, và “loại” tiếng Anh nào thì mỗi người mỗi khác.
  9. Happy ending của một tình yêu là một đám cưới và hai bạn sống cùng nhau rất lâu sau đó, happy ending của việc học tiếng Anh là việc có thể “chém” tiếng Anh ở bất kỳ đâu, chỗ nào.
  10. Li dị có thể chỉ ngay sau đám cưới, và việc bạn quên, và phải học lại tiếng Anh sau những ngày không học thì cũng có thể chỉ 1 vài…tháng.
  11. Chốt lại là tiếng Anh và bạn gái gần giống nhau ở chỗ, có nhiều “cách” để chọn, nhưng nếu đã chọn, thì hãy “thủy chung”

 i_love_english_poster-rc2e8cde2e7604304a5747486c9ad1066_wvp_8byvr_324

MLEC

April, 2017

HCMC

[Học TA] 5 chiến lược để tăng cường sự “cam kết” với việc học online.

Học tập online đang dần trở thành xu hướng của thế giới, nhưng ở Việt Nam, còn rất nhiều rào cản cho việc học online. Hãy cùng MLES chia sẻ câu chuyện trên bài báo nói về quan điểm của một chương trình học online có nguồn gốc từ Mỹ nhé.

Và qua đó xem thêm thông tin về chương trình học online kết hợp với MLEC nha.

Các giáo viên kinh nghiệm thường nói rằng “95% của việc giảng dạy tốt là việc giúp cho học sinh có động lực học tập.” Việc học trực tuyến đem đến cơ hội cho cả việc đo lường sự “gắn kết” đó và tạo ra một “phương pháp” học mới giúp làm tăng động lực học tập.

Facebook có được con số 65% của hơn 1 tỷ người dùng, ở trên đó mỗi ngày, nhiều hơn 40 phút.

Học trực tuyến thì hẻo hơn, sự hăng hái lúc mới đầu dành cho các khóa học (MOOCs) thực sự khiến người ta nản lòng vì tỉ lệ hoàn thành trung bình dưới 10%. Thách thức đối với các platform online là làm sao để có được thứ “bùa mê” của Facebook để tỷ lệ người dùng “gắn bó” tăng lên. Dưới đây là 5 chiến lược mở ra một cơ hội mới cho các platform học tập online được chia sẻ trên Xconomy bởi Alan – Founder and CEO của EnglishCentral. Một sản phẩm mà MLEC vinh dự là người dùng hiệu quả và đang là giáo viên trong team hỗ trợ của thị trường Việt Nam.

Hãy cùng quay lại với 5 chiến lược đó nhé.

 ec-new-logo-2

1/ Để cho người học quyền lựa chọn.

Để người học lựa chọn nội dung học là một yếu tố quan trọng trong việc tăng cường sự “gắn bó” học tập. Đó là hiệu ứng của Youtube, để người học khám phá một video chạm vào sự tò mò của họ và sau đó đưa cho họ một lối tắt trong quá trình học tập ngay tại đó (nơi đó, thời điểm đó). Khan Academy cũng đã làm rất tốt việc này với bản đồ học tập của họ.

2/ Thích ứng với trình độ của học viên.

Người học cần phải được cảm thấy có sự thách thức, nhưng không đến mức nản lòng, và bí mật là việc học phải được thích ứng và điều chỉnh theo thời gian thực. Đem đến nội dung học tập đúng trình độ ở đúng thời điểm sẽ giúp cho học sinh có thêm động lực học tập và duy trì việc đó sẽ giúp học sinh có hứng thú học hơn.

3/ Sử dụng đa dạng game

Người học trực tuyến, giống như các game thủ họ hành động có động cơ. Việc luyện não là một ví dụ điển hình của việc đưa cho học sinh một “miếng vàng tự nhiên” trong việc học tập khiến họ cảm thấy bị ép buộc phải học tập quyết liệt hơn mỗi ngày. Những sự khuyến khích đó có thể trở thành những mô hình học tập để quy đổi việc học ra một dạng điểm kinh nghiệm như trong Xbox, hay là thông qua các huy hiệu, các chứng nhận như những gì các bạn đang có cơ hội nhận được từ Duolingo. Một trò chơi thú vị cũng đòi hỏi sự hợp tác và cạnh tranh giữa những người học, người chơi. Để biết bạn đang ở đâu so với những người ở nhóm tuổi, hoặc thậm chí biết được mình đang ở đâu so với bạn bè mình để từ đó có thêm động lực hoàn thiện mình hơn.

4/ Mobile hóa

Một ứng dụng điện thoại mượt mà là một sine qua non để tăng mức độ gắn kết. Có một thực tế dễ hiểu là người dùng ngày càng dành nhiều thời gian với những cái điện thoại hơn là với những chiếc máy tính cồng kềnh trước đây, truy cập qua điện thoại cho phép họ học tập, theo dõi và quản lý tiến trình học mọi lúc mọi nơi trong cả ngày. Duolingo đã đạt được hơn 100 triệu lượt tải với một ứng dụng học ngôn ngữ và được coi như một chuẩn mực về sự gắn kết của người dùng khi tạo ra một sản phẩm tập trung vào mobile cho phép học nhanh ngôn ngữ chỉ trong khoảng thời gian 10 phút (mỗi ngày)

5/ Khuếch đại tiếng nói của người thầy.

Nền tảng (platform) trực tuyến tốt nhất sẽ không loại bỏ sự có mặt của giáo viên trong công thức học tập, mà thậm chí còn khuếch đại nó. Nền tảng tốt nhất duy trì sự hướng dẫn học tập thông qua tin nhắn của giáo viên (thường có thể tự động) ví như “Bạn đã không thực hành trong 3 ngày gần đây”, hoặc thông qua bộ công cụ mà giáo viên có thể nghe lại những gì học sinh đã học và đưa ra những phản hồi mang tính cá nhân. Nền tảng lai (hybrid platform) còn đi một bước tiến xa hơn nữa khi nhấn mạnh việc tự học bằng cách, thông qua một nút “Nói với một Giáo viên” để cho phép người học có thể truy cập vào hệ thống gia sư trực tuyến trực tiếp.

Alan Schwartz

January 13th, 2016

MLEC Mar 2017

Thông tin về khóa học blended của EC và MLEC tham khảo thêm tại ĐÂY

[Học TA] Làm thế nào để đánh giá một bài nói tiếng Anh

Góc nhìn từ một giáo viên, hôm nay, MLES sẽ chia sẻ với các bạn về cách mà thầy cô đánh giá bài nói của các bạn, qua đó tìm kiếm những chiến lược tăng tốc cải thiện kỹ năng nói của mình nhé.

public-speaking

Bạn đang trong một lớp học nhỏ ở trường ngôn ngữ địa phương hoặc đại học. Gần hết học kỳ rồi, và lớp học nói của bạn đã có những khoảng thời gian vui vẻ suốt cả năm học. Các bạn đã học từ vựng, chơi nhập vai, và tương tác chiến thuật, thậm chí đã luyện tập nói với các bạn khác. Câu hỏi lớn hiện nay là làm sao để đánh giá được quá trình học đó? Bạn có thể nói hoặc không, phải không nào, có thể tốt hoặc chưa tốt. Và tin tốt lành là: bạn có thể đưa ra việc đánh giá các mục tiêu trong lớp học nói. Dựa trên  các tiêu chí đánh giá khả năng nói, bạn có thể đưa lại các ý kiến phản hồi cho học sinh để họ có thể thấy được mức đánh giá là khách quan và có ý chí phấn đấu

 

Tạo ra một bảng tiêu chí chấm (rubric)

 

Hầu hết các giáo viên đều quen với khái niệm về một đề mục đánh giá, một bảng biểu với các tiêu chí khác nhau và một thang đo chấm điểm. Nếu bạn chưa bao giờ tạo ra một thứ gì đó tương tự, thì mình phải nói là nó rất đơn giản. Chỉ cần chọn các tiêu chính sẽ chấm, liệt kê ở góc trái của trang giấy. Sau đó thêm số cột tương đương các thang điểm ở bên phải. Thường thì nên chọn 4 nếu bạn mới bắt đầu tạo bảng. Những cột này sẽ tương đương với mức độ tiềm năng cho các kỹ năng đươc chấm. Ở mỗi tiêu chí, hãy chia mức độ học sinh có thể đạt được ra thành 4 mức rõ ràng với chi tiết các yêu cầu, đòi hỏi. Ví dụ, dễ thấy nhất trên một cái bảng đó thì có “đạt được kỳ vọng cao, đạt kỳ vọng thấp, hơi kém hơn so với mong đợi, không được như kỳ vọng”. Bạn càng tạo nhiều bảng chấm điểm thì bạn càng làm chi tiết hơn trong phần mô tả chấm của bạn. Sau đó, khi bạn đánh giá học sinh của mình, bạn sẽ xác định đâu là trình độ mà cậu ấy/cô ấy đang ở. Chọn ra mức trung bình trong số tất cả các tiêu chí, và đưa ra những gợi ý, những nhận xét về các điểm yếu mà học sinh cần khắc phục, cải thiện.

 

1/ Phát âm

 

Phát âm là một trong những tiêu chuẩn cơ bản của việc học ngôn ngữ. Dù hầu hết những người học ngôn ngữ thứ hai sẽ không bao giờ có được sự phát âm giống như người bản ngữ, nhưng các lỗi phát âm cơ bản sẽ khiến cho việc giao tiếp trở nên khó khăn. Khi đánh giá về kỹ năng phát âm của học sinh, các bạn hãy nghe các từ được phát âm to, rõ ràng, phát âm đúng của các từ không thường thấy, sự đồng âm và các từ rút gọn trong các vị trí khác nhau trong câu. Và cũng hãy nghe âm điệu nữa. Xem học sinh có đang sử dụng uyển chuyển và phù hơp với các loại câu đang nói không? Các bạn học sinh có biết rằng âm điệu của một câu hỏi thì khác với một câu khẳng định như nào không? Nghe kỹ và đánh giá đúng khả năng phát âm của học sinh của mình nhé.

 

 

2/ Từ vựng

 

Sau khi đánh giá khả năng phát âm của học sinh, chuyển sang phần từ vựng. Hiểu từ vựng và dùng từ vựng luôn là 2 phần khác nhau trong suy nghĩ của bất kỳ người sử dụng ngôn ngữ nào, dù là bản ngữ hay là ngoại ngữ. Bạn nên khuyến khích học sinh của mình sử dụng nhiều phần từ vựng nhất có thể, thậm chí nhiều hơn phần họ hiểu. Vì lý do này mà việc đánh giá về từ vựng của học sinh trên trình độ của họ là hết sức cần thiết. Họ có đang sử dụng những từ vựng cụ thể mà họ được học trong kỳ này không? Họ có dùng từ vựng phù hợp với ngữ cảnh không? Nghe xem mức độ sử dụng từ vựng của học sinh mà không có sự nhắc nhở nào rồi đánh giá xem trình độ của các bạn học sinh đang ở đâu.

 

3/ Tính đúng đắn

 

Ngữ pháp đã và sẽ luôn luôn là một khía cạnh quan trọng khi học ngoại ngữ. Viết đúng một câu trong bài thi, dù sao thì cũng không giống như mắc lỗi khi nói. Khi học sinh nói, hãy để ý tới các cấu trúc ngữ pháp và các công cụ mà bạn đã dạy các bạn ấy. Họ có khả năng sử dụng cùng lúc nhiều thì không? Họ có nhất quán không, thứ tự từ đã đúng chưa? Tất cả những điều trên là những vấn đề quan trọng trong ngữ pháp mà một người học ngôn ngữ thành công sẽ hiểu và làm chủ được.

 

4/ Giao tiếp

 

Một học sinh có thể gặp vấn đề với ngữ pháp và phát âm, nhưng họ sẽ sáng tạo như nào khi giao tiếp bằng ngôn ngữ mà các bạn ấy được học? Đánh giá việc giao tiếp của học viên là bạn xem xét các khía cạnh sáng tạo của họ khi sử dụng ngôn ngữ để khiến người khác hiểu được. Một học sinh với mức độ sử dụng từ vựng và ngữ pháp thấp có thể có một kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nếu cô ấy có thể khiến cho mọi người hiểu những gì cô ấy nói, trong khi một bạn khác với một kỹ năng “tạo ra” các đoạn hội thoại phức tạp lại không thể bày tỏ được ý tưởng của mình sẽ bị đánh giá là kỹ năng giao tiếp kém. Đừng để sự thiếu hụt một kỹ năng ngôn ngữ khiến học sinh trở nên khó khăn trong việc bộc lộ bản thân. Họ càng sáng tạo với ngôn ngữ bao nhiêu, họ càng dễ để bày tỏ bản thân một cách độc đáo bấy nhiêu, từ đó mà kỹ năng giao tiếp nói chung của họ sẽ được đánh giá cao hơn.

 

5/ Tương tác

 

Có thể nói những gì bạn nghĩ bằng ngoại ngữ chỉ là một thứ, có thể tương tác với người khác lại là chuyện khác. Hãy hỏi học viên của bạn những câu hỏi. Quan sát cách các bạn ấy trả lời. Các bạn học sinh có thực sự hiểu và có thể trả lời câu hỏi không? Họ có thể trả lời khi bạn đưa ra câu hỏi không? Mỗi câu hỏi đưa ra có được trả lời hợp lý không? Tất cả những yếu tố trên là cần thiết để một người có thể giao tiếp hiệu quả bằng ngoại ngữ. Một học sinh với một kỹ năng tương tác tốt sẽ có thể trả lời câu hỏi và kéo dài hội thoại xung quanh đó. Kỹ năng diễn thuyết tốt sẽ không giúp được gì nếu như anh ấy/cô ấy không lắng nghe và phản hồi mọi người một cách phù hợp. Hãy khuyến khích học sinh nói, lắng nghe và phản hồi với mọi người trong mỗi cuộc hội thoại.

 

6/ Lưu loát

 

Đây có thể là tiêu chí dễ nhất để đánh giá khả năng nói của một học sinh. Họ có cảm thấy thoải mái khi nói không. Họ có gặp khó khăn trong việc sử dụng từ vựng không? Họ có phải dừng, và dành thời gian để nghĩ từ nhiều không. Nếu có thì học sinh đang gặp vấn đề với sự lưu loát, trôi chảy. Việc này khó có thể cải thiện như khi cải thiện các khía cạnh khác của ngôn ngữ. Bạn có thể có một trình độ siêu đỉnh về ngữ pháp nhưng lại vẫn bị lỗi khi giao tiếp, ngắc ngứ. Bạn muốn học sinh của mình có thể thoải mái sử dụng ngôn ngữ với bạn hoặc với những người nói tiếng Anh khác. Yếu tố lưu loát chính là một yếu tố quan trọng cần có trong khi đánh giá một bài nói.

 

Kết lại, các yếu tố đánh giá trên, phát âm, từ vựng, tính đúng đắn, kỹ năng giao tiếp, sự tương tác và lưu loát, tất cả đều phản ánh khả năng nói nói chung của một người học ngôn ngữ.

 

Học sinh có thể siêu ở một khía cạnh và khó ở một khía cạnh khác, và không nhất thiết là khía cạnh mà bạn đang nghĩ đến. Hãy giúp học sinh hiểu những tiêu chí này và sự ảnh hưởng của nó tới việc nói tiếng Anh. Hãy để học sinh hiểu rằng bạn sẽ lắng nghe khi đánh giá họ và giúp họ cải thiện trong tất cả các khía cạnh. Dĩ nhiên, không chỉ lắng nghe khi họ nói với bạn, hãy lắng nghe khi các bạn ấy nói với nhau nữa.

Sau cùng, hầu hết các phần tiếng Anh mà học sinh của bạn sử dụng trong tương lai cũng sẽ dùng với những người không phải bản ngữ khác. Hãy nhớ, một sự đánh giá đúng đắn sẽ đến từ quá trình nhiều hơn là từ một bài kiểm tra vấn đáp cuối kỳ. Hãy xem các bạn ấy đã cố gắng như nào, và khuyến khích các bạn ấy với tư cách của một người dạy, và của một người học. Tin tôi đi, bạn cũng sẽ nhận được nhiều lợi ích nữa, thật đấy.

 

 

MLEC, Mar 2017