[Thường thức] 10 nguyên tắc giúp chúng ta có một cuộc hội thoại thú vị hơn

Có thể có một cuộc hội thoại thú vị là một trong những kỹ năng tuyệt vời nhất mà ai cũng muốn có và có thể rèn luyện để có. Một cuộc hội thoại hiệu quả không đơn giản là khả năng có thể nói, mà đó còn là khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác, để biết cách tốt nhất đưa ra các quan điểm của mình. Một vài chia sẻ dưới đây có thể giúp bạn làm điều đó.

 Com course

1/ Tránh đa nhiệm

Bất cứ khi nào bạn đang nói chuyện với ai, hãy sống ở khoảnh khắc đó. Đừng nghĩ về những rắc rối tại văn phòng ngày hôm qua hoặc bạn sẽ ở đâu vào buổi tối ngày mai. Nếu bạn muốn dừng cuộc hội thoại ấy, hãy dừng nó, đừng có một nửa tham gia một nửa đứng ngoài.

 

2/ Đừng tỏ ra “nguy hiểm”

Nếu bạn muốn tuyên bố quan điểm của mình mà không phải sợ phản hồi tranh luận hoặc chống lại hoặc thậm chí là ủng hộ, hãy trở thành một blogger. Bạn cần tham gia vào mọi cuộc đối thoại nếu giả sử rằng bạn luôn có thể học được điều gì đó từ những người xung quanh. Tất cả một người đều là chuyên gia ở một lĩnh vực nào đó.

 

3/ Sử dụng câu hỏi mở

Hãy bắt đầu câu hỏi của bạn với những từ để hỏi như ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao và như thế nào. Nếu bạn đặt ra một câu hỏi khó, bạn sẽ nhận được một câu trả lời hết sức giản đơn. Nếu câu hỏi kiểu như “Bạn có sợ không?” hoặc “Bạn có tức giận không?” câu trả lời sẽ là “có” hoặc “không”. Hãy cho họ cơ hội mô tả chúng vì họ là người hiểu nhất. Câu hỏi kiểu như “Bạn cảm thấy thế nào?” Bởi vì sau khi nghe câu hỏi đó họ thường phải dừng một vài giây để nghĩ về nó, bạn chắc chắn sẽ nhận được những câu trả lời thú vị hơn nhiều.

 

4/ Để nó “lạc trôi” đi

Điều đó có nghĩa là hãy để cho suy nghĩ đến và đi khỏi đầu bạn. Nó giống như kiểu khi đi phỏng vấn, lúc người được hỏi trả lời dài dài trong vài phút rồi người phỏng vấn sẽ đưa ra một câu hỏi rất là không liên quan hoặc một câu hỏi đã từng được trả lời rồi. Điều đó cho thấy có thể người phỏng vấn đã không tiếp nhận thông tin trong khoảng hai phút trước vì anh ta mải nghĩ về câu hỏi rất “tinh tế” đó, và vừa mới quyết định sẽ hỏi nó. Và chúng ta đôi khi cũng vậy. Chúng ta đang ngồi nói chuyện với ai đó, và chúng ta chợt nhớ ra một cái gì đó rất thú vị mới xảy ra vài ngày trước. Và chúng ta dừng nghe. Những câu chuyện và những ý tưởng đang đến với bạn, bạn nên để chúng đến, và đi, một cách tự nhiên.

 

5/ Nếu bạn không biết về điều gì đó hơn là chấp nhận nó và đơn giản nói tôi không biết.

Bất cứ khi nào mọi người tuyên bố trở thành một chuyên gia, họ phải hết sức cẩn thận. Nếu bạn hiểu về một lĩnh vực nào đó đủ rõ để tự tin trở thành chuyên gia, thì hãy trở thành một chuyên gia. Còn không thì hãy nghĩ cho kỹ, những lời đàm tiếu và cái giá phải trả có thể không rẻ chút nào đâu.

 

6/ Đừng đánh đồng kinh nghiệm của bạn và người khác

Nếu ai đó nói về việc mất đi một người thân trong gia đình, đừng bắt đầu nói về bạn trong hoàn cảnh tương tự. Nếu ai đó đang nói đến vấn đề mà anh ấy hay cô ấy đang gặp phải trong cuộc sống cá nhân, đừng nói về bạn đã như thế nào trong những tình huống tương tự, lý do tương tự. Vì nó không giống nhau, nó không bao giờ giống nhau. Tất cả kinh nghiệm là trải nghiệm cá nhân, và quan trọng hơn nó phải liên quan tới bạn. Bạn không cần phải chứng minh bạn đáng kinh ngạc như nào, hay bạn đã phải chịu đựng như nào. Ai đó từng hỏi Stephen Hawking về chỉ số IQ của ông ấy, và ổng nói “Tôi không biết, những kẻ khoe khoang chỉ số IQ là những kẻ thất bại”. Và bạn thấy đấy, trò chuyện không phải một cơ hội quảng cáo bán hàng.

 

7/ Hãy cố gắng đừng tự lặp lại chính mình

Một sự tự hành hạ bản thân và nó sẽ rất đáng chán, và chúng ta lại có vẻ làm như vậy rất nhiều. Đặc biệt là trong công việc hoặc trong những cuộc trò chuyện với lũ trẻ, và khi chúng ta cần làm rõ một vấn đề nào đó, chúng ta cứ liên tục lặp đi lặp lại chính mình. Đừng làm thế.

 

8/ Hãy tránh xa đám cỏ dại

Chân thành mà nói, đừng để bị chậm lại bởi những tiểu tiết. Con người, theo đúng nghĩa đen, không có quan tâm đến việc biết năm, tên, ngày, tất cả những chi tiết đó khiến cho bạn rối trí hơn mà thôi. Và họ cũng đơn giản là không quan tâm. Họ quan tâm tới bạn, họ quan tâm tới những gì bạn thích, những điểm chung, vì thế thì hãy đừng quá chú trọng tới tiểu tiết, bỏ qua đi.

 

9/ Lắng nghe

Đây là một trong những điều quan trọng nhất. Lắng nghe là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà bạn có thể trau dồi. Phật nói, và tôi đang diễn giải lại “nếu miệng bạn mở, bạn đang học học được gì”. Joseph McCormack, tác giả của “BRIEF: Making a Bigger Impact by Saying Less” nói rằng não con người có khả năng hấp thu 750 từ trong một phút, nhưng trung bình một người chỉ có thể nói 150 từ trong 1 phút, điều đó có nghĩa là có hơn 600 từ trôi dạt đâu đó xung quanh trong não người nghe. Và hãy nhìn xem, tôi biết nó sẽ tốn nhiều năng lượng và nỗ lực để thực sự chú ý tới một người, nhưng nếu bạn không thể làm điều đó, bạn không thực sự tham gia đối thoại. Các bạn sẽ chỉ là hai người hết lên những câu vô nghĩa liên quan đến nhau tại cùng một nơi mà thôi. Bạn phải thực sự lắng nghe người khác.

 

10/ Hãy ngắn gọn

Hãy thử cố gắng ngậm miệng lại một cách thường xuyên nhất có thể và để cho cái tư duy mở ra, và tin tôi đi, bạn sẽ không thất vọng đâu. Dù biết có rất nhiều trở ngại của việc trở nên dài dòng, rất nhiều trong số chúng ta khó khăn với việc trở nên ngắn gọn. Một lý do là vì chúng ta tin rằng giải thích nhiều, chúng ta có thể chứng tỏ rằng mình thông minh. Đừng, hãy luôn ngắn gọn nhất có thể. Đừng có nói mãi về một vấn đề, nó có thể khiến người khác cảm thấy cuộc nói chuyện thật nhàm chán đấy.

 

Các bạn đã rút ra những điều lưu ý cho riêng mình chưa, để có một cuộc hội thoại thú vị, hãy cùng tham khảo khóa học tiếng Anh giao tiếp cơ bản online tại

Link: 

http://bit.do/ODailyConversationMLEC

 

MLEC, June 2017

[Học TA] 4 cách vượt qua thử thách khi học ngoại ngữ!!!

Chúng ta đều biết rằng việc học một ngoại ngữ là không dễ và chúng ta thường xuyên gặp vấn đề ngay từ đầu. Vì thế, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ với các bạn một vài “kỹ thuật” để giúp tăng tốc và cải thiện hiệu quả việc học ngôn ngữ của bạn. Hãy theo đuổi những bước dưới đây để trở thành một chuyên gia ngôn ngữ.
logo-challa
Có đoán ra được gì không? Chúng ta cần gì để cải thiện ngôn ngữ và trở nên lưu loát?

Ở đây có một vài điều thú vị

1/ Hãy sẵn sàng để mắc lỗi
Chúng ta thường thích ngồi yên lặng vì sự lo lắng về những gì người khác nghĩ về chúng ta khi chúng ta không phát âm chính xác 100%, sẽ khiến chúng ta sợ hãi. Lỗi tư duy này khiến chúng ta không sẵn sàng để luyện tập để trở nên khá hơn.
Sự tập trung của chúng ta nên dành cho việc giao tiếp là ưu tiên hàng đầu. Nếu chúng ta kiểm soát việc giao tiếp, điều đó thật tuyệt, không cần phải hoàn hảo đâu.
Chúng ta không học được gì cho đến khi chúng ta bắt đầu nói. Kể cả khi chúng ta không có bất kỳ từ nào trong đầu, chúng ta có thể chỉ cần lựa ra vài từ quan trọng và bắt đầu với chúng. Bằng cách này, mọi người có thể cười chúng ta trước hết, nhưng chả sao. Thi thoảng, chúng ta cảm thấy bị xúc phạm và làm nhụt chí, chả sao cả. Hãy thoát khỏi sợ hãi và tiếp tục mắc lỗi.

2/ Phát âm là “chìa khóa” và đừng “hối thúc”
Một thứ rất quan trọng để quan sát khi nói chuyện với 1 người bản ngữ là lưu ý đến phát âm của họ và lặp lại những từ đó rất nhiều lần. Cách tốt nhất để trở nên thoải mái với ngôn ngữ là sử dụng nó. Càng dùng nhiều, bạn càng cảm thấy dễ dàng hơn để tìm ra từ phù hợp để tạo ra câu phù họp và phát âm từng từ từng chữ một cách chính xác, rõ ràng
Chúng ta cần bắt đầu bằng đặt những câu nhỏ để tránh cảm giác lúng túng và sự lắp bắp. Việc một người mới học bối rối khi nói tiếng Anh là một vấn đề thường thấy. Vì thế việc chúng ta phải làm là phát âm từng từ một cách chính xác. Chúng ta cần tập trung và phát âm đúng hơn là tập trung vào nói nhanh.

Tham khảo công cụ cải thiện phát âm chuẩn Mỹ: https://vi.englishcentral.com/teach#!/manage/index/53669-englishcentral-vit-nam/49400-mister-luu-english-class

3/ Bắt đầu nghĩ bằng ngôn ngữ đó và tự thoại
Nghe “ngu” nhở. Nhưng mà không hẳn đâu. Nếu bạn thực sự có một thói quen tự thoại, hãy thử tự thoại bằng thứ ngôn ngữ bạn đang muốn học đi. Làm vậy sẽ giúp bạn từ từ vượt qua sự xấu hổ để nói bằng ngôn ngữ đó. Và chắc chắn là bạn cũng sẽ có thêm tự tin khi nói nữa.
Ghi âm hoặc ghi hình lại để xem các biểu cảm trên gương mặt bạn rồi cố gắng cải thiện tông giọng, và phát âm.

Đọc thêm về độc thoại: https://tuanvuluu.wordpress.com/2016/12/26/tu-hoc-gioi-tieng-anh-doc-thoai/

4/ Luyện tập với người bản ngữ
Khi học một ngôn ngữ mới, chúng ta thường thấy bản thân luyện tập nói với những người không phải là người bản ngữ, điều đó dẫn đến 2 vấn đề như này
a/ Vấn đề thứ nhất: người đó có thể vẫn mắc lỗi mà bạn không biết, trong tương lai bạn có thể mắc phải lỗi tương tự.
b/ Điều thứ hai là việc phát âm của bạn có thể sẽ bị ảnh hưởng đối với một số từ.
Một cách tốt để tránh những vấn đề này là hãy chắc chắn rằng bạn có cơ hội thực hành với một người bản ngữ.

Đăng ký để được tư vấn thêm tại: http://bit.do/nativeonline-scout

MLEC June 2017

7 học thuyết về học ngôn ngữ của các triết gia

Ngôn ngữ là một công cụ mà loài người sử dụng mỗi ngày để bày tỏ sự đa dạng của cảm xúc, ý tưởng, khái niệm, và hành vi. Việc học ngôn ngữ thứ hai đã và luôn bị coi là một việc không đơn giản, khó hơn nhiều so với cách chúng ta học ngôn ngữ thứ nhất, hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ.

Đó là một suy nghĩ phổ biến, nhưng e là không được đúng cho lắm.

Ta phải học tập rất chăm chỉ để hiểu những gì mọi người quanh ta đang nói tới. Nó không xảy ra chỉ sau một đêm khi ta ngủ, vì thế đừng mong việc học ngôn ngữ dễ. Thực tế thì, nếu chỉ trong một vài năm mà bạn đã có thể thoải mái tự tin sử dụng một ngôn ngữ mới, như vậy thì việc học ngôn ngữ đó đã dễ hơn so với ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) của bạn. Hãy nhớ rằng, bạn vẫn còn học ngôn ngữ mẹ đẻ khi học đến cấp 3, bạn chưa thực sự giỏi như bạn nghĩ đâu ha.

learning-theories

Để học một ngôn ngữ mới nhanh hơn, bạn có thể sẽ phải tìm những học thuyết về ngôn ngữ đúng. Công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta học nhanh hơn qua từng giai đoạn, nhưng đó không phải là thứ duy nhất bạn cần, trên thực tế thì hiệu ứng của nó sẽ nhiều nhất ở lúc mới bắt đầu. Việc nhận ra điều đó sẽ giúp bạn đi nhanh hơn nhiều người. Không có cách nào tốt hơn việc nói về một học thuyết ngôn ngữ với một người hiểu về điều đó. Họ sẽ giúp ta hiểu vì sao và như thế nào mà chúng ta hiểu và suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Cuối cùng, việc đó chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta biết nơi mà suy nghĩ của ta nên ở để có thể thu lượm được nhiều kinh nghiệm học ngôn ngữ nhất.

Hãy cùng xem những triết gia dưới đây nói về việc học ngôn ngữ như nào nhé.

 

 

1/ Plato: một trong những cái tên vĩ đại nhất của triết học phương Tây

Người đời hầu hết biết tới Plato như một triết gia, ít ai biết rằng ông ấy cũng có rất nhiều suy nghĩ thú vị về ngôn ngữ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả vì ngôn ngữ chính là công cụ đắc lực để ông ấy trở thành một triết gia nổi tiếng.

Plato tin rằng kiến thức là thứ gì đó đơn giản là loài người có, nó là tự nhiên, là bẩm sinh. Ý tưởng của Plato gợi lên một vấn đề Plato, khi mà ông ấy tự hỏi bằng cách nào mà con người lại có thể đạt được rất nhiều thành tích, thành tựu với rất ít thời gian cho phép. Ngôn ngữ là một yếu tố tự nhiên, thiên bẩm của con người, và điều đó lý giải tại sao hầu hết loài người có khả năng bắt đầu nói trước khi tổ chức sinh nhật lần thứ 10.

Khi ta cân nhắc cho rằng ngôn ngữ là một phần của quá trình suy nghĩ, nó sẽ đáng lo ngại hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản là học một cách nghĩ khác những suy nghĩ sẵn có trong đầu ta.

 

 

2/ Descartes và học thuyết ngôn ngữ Cartesian

Descartes tin theo ý tưởng của Plato rằng ngôn ngữ chỉ đơn giản là một thứ gì đó con người tự nhiên có. Niềm tin ấy dựa vào niềm tin thực tế cho rằng con người là những tạo vật được tạo ra một cách đúng đắn trên quy mô rộng, và ngôn ngữ là thứ phải có để tương tác với nhau.

Sự vận động của Descartes ở chỗ niềm tin của ông phản ánh thực tế là ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Vấn còn đó rất nhiều điểm chung giống nhau giữa những ngôn ngữ ít giống nhau nhất. Nghe thật phấn khích bởi vì điều đó có nghĩa là bạn có thể tìm thấy điểm chung giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ mà bạn đang có ý định học để bắt đầu hiểu ngôn ngữ được “vận động” như nào.

 

 

3/ Locke và Tabula Rasa

Có thể bạn đã từng nghe về khái niệm “bảng trắng” được đưa ra bởi Locke. Điều đó cho thấy Locke không đồng tình với ý kiến cho rằng mọi thứ là tự nhiên biết. Mọi người bắt đầu với một tấm bảng trắng mà họ sẽ phải điền vào, dĩ nhiên, ngôn ngữ cũng phải học. Mọi thứ đều phải được học từ các giác quan tri nhận. Thôi thì không có gì phải buồn vì chúng ta sẽ tin rằng ai cũng sẽ bắt đầu từ con số 0 để đến với ngôn ngữ mục tiêu mà mình muốn học.

 

 

Ba triết gia này chủ yếu thảo luận về ngôn ngữ trong quá trình chuyển tiếp, chứ không phải đề cập đến nhiều chi tiết cụ thể. Bốn học thuyết sau sẽ nói nhiều hơn đến ngôn ngữ cụ thể.

 

 

4/ Skinner và lý thuyết hành vi (Behaviorism)

Skinner đồng ý với Locke và ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về lý thuyết hành vi. Lý thuyết đó cho rằng tất cả các hành vi là sự phản hồi của các tác nhân kích thích quanh ta. Skinner ứng dụng lý thuyết đó trong học ngôn ngữ thông qua hoạt động có điều kiện, sử dụng sự nhấn mạnh và các hình phạt để dạy. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cha mẹ thường từ chối yêu cầu của trẻ con cho đến khi chúng nói “làm ơn”. Phần thưởng là nhận được thứ chúng muốn, và ý tưởng của việc nói “làm ơn” được nhấn mạnh thông qua phần thưởng.

Lý thuyết hành vi nói rằng chúng ta cần phản hồi để thành công, kể cả việc học ngôn ngữ.

 

 

5/ Chomsky và Universal Grammar

Noam Chomsky phát triển ý tưởng riêng của ông ay trong khi Skinner đang phát triển học thuyết hành vi. Chomsky phát triển thuyết “vũ trụ ngữ pháp”. Nó gần như đối lập với học thuyết của Skinner. Chomsky tin rằng ít nhất thì con người cũng có một chút gì đó khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ. Bằng chứng mà ông đưa ra là một số yếu tố mang tính “vũ trụ” có trong tất cả các ngôn ngữ.

Trong khi học thuyết của Chomsky lý giải nhiều hơn cho việc học ngôn ngữ đầu tiên, nó không có thực sự được áp dụng trong khi nói về việc học ngôn ngữ thứ hai. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng có những yếu tố tương đồng nhau, nhưng không có gì cụ thể giúp cho việc học ngôn ngữ không còn chẳng liên quan gì tới nhau nữa.

 

 

6/ Schumann và mô hình hội nhập

John Schumann đặc biệt quan tâm tới việc những người nhập cư học ngôn ngữ mới ở nơi họ chuyển tới. Học thuyết của ông ấy có tên là “Mô hình hội nhập” và chỉ ra các vấn đề về ngôn ngữ cụ thể hơn nhiều so với các học thuyết khác. Thay vì nghĩ về việc học ngôn ngữ cho vui, ông ta đã xem xét nó khi nó là một việc thiết yếu. Những người nhập cư học một ngôn ngữ mới với nhiều áp lực hơn từ cộng đồng và yếu tố tâm lý. Thường hoặc là thành công, không thì thất bại.

Nếu một người nhập cư có khả năng ngôn ngữ gần hòa nhập với ngôn ngữ ở ngôi nhà mới của họ, họ sẽ được cho là có nhiều khả năng học ngôn ngữ hơn. Điều tương tự cũng đúng nếu yếu tố văn hóa tương đồng. Điểm này chỉ ra rằng có rất nhiều lý do tâm lý và lý do mang tính xã hội cho việc học một ngôn ngữ, ý tưởng mà các triết gia trước đó chưa từng để ý tới.

 

 

7/ Krashen và “mô hình giám sát”

Stephen Krashen biên soạn một vài học thuyết về ngôn ngữ trong đó có những thuyết vẫn còn được sử dụng đến nay để mô tả việc học một ngôn ngữ thứ 2. Những ý kiến chính sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những học thuyết của ông ấy.

  • Tiếp thu một ngôn ngữ thì phần lớn là vô thức bởi vì nguồn gốc của việc học ngôn ngữ đến từ các cuộc hội thoại chính thống và không chính thống.
  • Việc học một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều nỗ lực một cách có ý thức và phụ thuộc nhiều vào sự “chữa lỗi” một cách nghiêm chỉnh.
  • Ngữ pháp thì chủ yếu được học theo một chuỗi có thể đoán được và có thứ tự
  • Tiếp thu một ngôn ngữ xảy ra khi nó được bắt nguồn từ đầu vào dễ hiểu, ví dụ như trò chuyện hoặc đọc.
  • Một người giám sát có thể là bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì chữa lỗi sai ngôn ngữ cho bạn và tạo áp lực cho bạn phải điều chỉnh nó.

Phần cơ bản lấy từ học thuyết nói rằng tiếp thu và học ngôn ngữ là khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm các yếu tố giống nhau. Việc chữa lỗi là cần thiết cho cả tiếp thu và học ngôn ngữ.

 

 

Trong khi không có học thuyết nào thực sự giúp bạn học một ngôn ngữ, nhưng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi biết rằng kể cả kiến thức về việc học một ngôn ngữ cũng vẫn còn đó để thảo luận. Bạn có thể cảm thấy một hoặc vài trong số các học thuyết nêu trên gần tương đồng với những điều mà bạn đang làm để học ngôn ngữ, và biết đâu điều đó có thể giúp bạn hiểu hơn để sử dụng các học thuyết đó giúp cho quá trình học ngôn ngữ của các bạn nhanh hơn và hiệu quả hơn.

 

MLEC chúc các bạn học tốt, và sớm thành công.

 

Source: https://www.optilingo.com/blogs/news/7-language-learning-theories-by-the-masters-of-thought

 

April, 2017

Học tiếng Anh có giống chọn bạn gái không?

Giống không? Giống! Giống sao?

  1. Tiếng Anh thì cũng có rất nhiều “loại” tiếng Anh, giống như có rất nhiều “mẫu” con gái cho các bạn chọn vậy
  2. Và khi bạn chọn tiếng Anh rồi, bạn có thể “chia tay” và chọn lại, nhưng hầu như bạn nên “chung thủy”.
  3. Khi mới bắt đầu, bạn sẽ rất hứng thú với cả tiếng Anh, cũng như với người bạn gái mới của mình.
  4. Việc học sẽ càng ngày càng chán, như bạn cũng biết, nếu như bạn không tìm ra được những điều mới quanh đó/cô ấy mỗi ngày.
  5. Bạn sẽ học tiếng Anh với “kinh nghiệm” của người đi trước, hoặc dò dẫm tự học, như việc yêu cũng vậy.
  6. Niềm vui, nỗi buồn, và cả những giận hờn đến mức muốn “vứt hết đi” sẽ cho bạn những cung bậc cảm xúc hình supersin khi yêu, cũng như khi học tiếng Anh.
  7. Chia tay lên xuống vài lần, hoặc chỉ một lần dứt áo ra đi.
  8. Tình yêu vĩnh cửu, nhưng người yêu thì thay đổi, cũng giống như tiếng Anh là nhu cầu ai cũng có, nhưng học theo phương pháp nào, và “loại” tiếng Anh nào thì mỗi người mỗi khác.
  9. Happy ending của một tình yêu là một đám cưới và hai bạn sống cùng nhau rất lâu sau đó, happy ending của việc học tiếng Anh là việc có thể “chém” tiếng Anh ở bất kỳ đâu, chỗ nào.
  10. Li dị có thể chỉ ngay sau đám cưới, và việc bạn quên, và phải học lại tiếng Anh sau những ngày không học thì cũng có thể chỉ 1 vài…tháng.
  11. Chốt lại là tiếng Anh và bạn gái gần giống nhau ở chỗ, có nhiều “cách” để chọn, nhưng nếu đã chọn, thì hãy “thủy chung”

 i_love_english_poster-rc2e8cde2e7604304a5747486c9ad1066_wvp_8byvr_324

MLEC

April, 2017

HCMC

[Học TA] 5 chiến lược để tăng cường sự “cam kết” với việc học online.

Học tập online đang dần trở thành xu hướng của thế giới, nhưng ở Việt Nam, còn rất nhiều rào cản cho việc học online. Hãy cùng MLES chia sẻ câu chuyện trên bài báo nói về quan điểm của một chương trình học online có nguồn gốc từ Mỹ nhé.

Và qua đó xem thêm thông tin về chương trình học online kết hợp với MLEC nha.

Các giáo viên kinh nghiệm thường nói rằng “95% của việc giảng dạy tốt là việc giúp cho học sinh có động lực học tập.” Việc học trực tuyến đem đến cơ hội cho cả việc đo lường sự “gắn kết” đó và tạo ra một “phương pháp” học mới giúp làm tăng động lực học tập.

Facebook có được con số 65% của hơn 1 tỷ người dùng, ở trên đó mỗi ngày, nhiều hơn 40 phút.

Học trực tuyến thì hẻo hơn, sự hăng hái lúc mới đầu dành cho các khóa học (MOOCs) thực sự khiến người ta nản lòng vì tỉ lệ hoàn thành trung bình dưới 10%. Thách thức đối với các platform online là làm sao để có được thứ “bùa mê” của Facebook để tỷ lệ người dùng “gắn bó” tăng lên. Dưới đây là 5 chiến lược mở ra một cơ hội mới cho các platform học tập online được chia sẻ trên Xconomy bởi Alan – Founder and CEO của EnglishCentral. Một sản phẩm mà MLEC vinh dự là người dùng hiệu quả và đang là giáo viên trong team hỗ trợ của thị trường Việt Nam.

Hãy cùng quay lại với 5 chiến lược đó nhé.

 ec-new-logo-2

1/ Để cho người học quyền lựa chọn.

Để người học lựa chọn nội dung học là một yếu tố quan trọng trong việc tăng cường sự “gắn bó” học tập. Đó là hiệu ứng của Youtube, để người học khám phá một video chạm vào sự tò mò của họ và sau đó đưa cho họ một lối tắt trong quá trình học tập ngay tại đó (nơi đó, thời điểm đó). Khan Academy cũng đã làm rất tốt việc này với bản đồ học tập của họ.

2/ Thích ứng với trình độ của học viên.

Người học cần phải được cảm thấy có sự thách thức, nhưng không đến mức nản lòng, và bí mật là việc học phải được thích ứng và điều chỉnh theo thời gian thực. Đem đến nội dung học tập đúng trình độ ở đúng thời điểm sẽ giúp cho học sinh có thêm động lực học tập và duy trì việc đó sẽ giúp học sinh có hứng thú học hơn.

3/ Sử dụng đa dạng game

Người học trực tuyến, giống như các game thủ họ hành động có động cơ. Việc luyện não là một ví dụ điển hình của việc đưa cho học sinh một “miếng vàng tự nhiên” trong việc học tập khiến họ cảm thấy bị ép buộc phải học tập quyết liệt hơn mỗi ngày. Những sự khuyến khích đó có thể trở thành những mô hình học tập để quy đổi việc học ra một dạng điểm kinh nghiệm như trong Xbox, hay là thông qua các huy hiệu, các chứng nhận như những gì các bạn đang có cơ hội nhận được từ Duolingo. Một trò chơi thú vị cũng đòi hỏi sự hợp tác và cạnh tranh giữa những người học, người chơi. Để biết bạn đang ở đâu so với những người ở nhóm tuổi, hoặc thậm chí biết được mình đang ở đâu so với bạn bè mình để từ đó có thêm động lực hoàn thiện mình hơn.

4/ Mobile hóa

Một ứng dụng điện thoại mượt mà là một sine qua non để tăng mức độ gắn kết. Có một thực tế dễ hiểu là người dùng ngày càng dành nhiều thời gian với những cái điện thoại hơn là với những chiếc máy tính cồng kềnh trước đây, truy cập qua điện thoại cho phép họ học tập, theo dõi và quản lý tiến trình học mọi lúc mọi nơi trong cả ngày. Duolingo đã đạt được hơn 100 triệu lượt tải với một ứng dụng học ngôn ngữ và được coi như một chuẩn mực về sự gắn kết của người dùng khi tạo ra một sản phẩm tập trung vào mobile cho phép học nhanh ngôn ngữ chỉ trong khoảng thời gian 10 phút (mỗi ngày)

5/ Khuếch đại tiếng nói của người thầy.

Nền tảng (platform) trực tuyến tốt nhất sẽ không loại bỏ sự có mặt của giáo viên trong công thức học tập, mà thậm chí còn khuếch đại nó. Nền tảng tốt nhất duy trì sự hướng dẫn học tập thông qua tin nhắn của giáo viên (thường có thể tự động) ví như “Bạn đã không thực hành trong 3 ngày gần đây”, hoặc thông qua bộ công cụ mà giáo viên có thể nghe lại những gì học sinh đã học và đưa ra những phản hồi mang tính cá nhân. Nền tảng lai (hybrid platform) còn đi một bước tiến xa hơn nữa khi nhấn mạnh việc tự học bằng cách, thông qua một nút “Nói với một Giáo viên” để cho phép người học có thể truy cập vào hệ thống gia sư trực tuyến trực tiếp.

Alan Schwartz

January 13th, 2016

MLEC Mar 2017

Thông tin về khóa học blended của EC và MLEC tham khảo thêm tại ĐÂY

[Học TA] Làm thế nào để đánh giá một bài nói tiếng Anh

Góc nhìn từ một giáo viên, hôm nay, MLES sẽ chia sẻ với các bạn về cách mà thầy cô đánh giá bài nói của các bạn, qua đó tìm kiếm những chiến lược tăng tốc cải thiện kỹ năng nói của mình nhé.

public-speaking

Bạn đang trong một lớp học nhỏ ở trường ngôn ngữ địa phương hoặc đại học. Gần hết học kỳ rồi, và lớp học nói của bạn đã có những khoảng thời gian vui vẻ suốt cả năm học. Các bạn đã học từ vựng, chơi nhập vai, và tương tác chiến thuật, thậm chí đã luyện tập nói với các bạn khác. Câu hỏi lớn hiện nay là làm sao để đánh giá được quá trình học đó? Bạn có thể nói hoặc không, phải không nào, có thể tốt hoặc chưa tốt. Và tin tốt lành là: bạn có thể đưa ra việc đánh giá các mục tiêu trong lớp học nói. Dựa trên  các tiêu chí đánh giá khả năng nói, bạn có thể đưa lại các ý kiến phản hồi cho học sinh để họ có thể thấy được mức đánh giá là khách quan và có ý chí phấn đấu

 

Tạo ra một bảng tiêu chí chấm (rubric)

 

Hầu hết các giáo viên đều quen với khái niệm về một đề mục đánh giá, một bảng biểu với các tiêu chí khác nhau và một thang đo chấm điểm. Nếu bạn chưa bao giờ tạo ra một thứ gì đó tương tự, thì mình phải nói là nó rất đơn giản. Chỉ cần chọn các tiêu chính sẽ chấm, liệt kê ở góc trái của trang giấy. Sau đó thêm số cột tương đương các thang điểm ở bên phải. Thường thì nên chọn 4 nếu bạn mới bắt đầu tạo bảng. Những cột này sẽ tương đương với mức độ tiềm năng cho các kỹ năng đươc chấm. Ở mỗi tiêu chí, hãy chia mức độ học sinh có thể đạt được ra thành 4 mức rõ ràng với chi tiết các yêu cầu, đòi hỏi. Ví dụ, dễ thấy nhất trên một cái bảng đó thì có “đạt được kỳ vọng cao, đạt kỳ vọng thấp, hơi kém hơn so với mong đợi, không được như kỳ vọng”. Bạn càng tạo nhiều bảng chấm điểm thì bạn càng làm chi tiết hơn trong phần mô tả chấm của bạn. Sau đó, khi bạn đánh giá học sinh của mình, bạn sẽ xác định đâu là trình độ mà cậu ấy/cô ấy đang ở. Chọn ra mức trung bình trong số tất cả các tiêu chí, và đưa ra những gợi ý, những nhận xét về các điểm yếu mà học sinh cần khắc phục, cải thiện.

 

1/ Phát âm

 

Phát âm là một trong những tiêu chuẩn cơ bản của việc học ngôn ngữ. Dù hầu hết những người học ngôn ngữ thứ hai sẽ không bao giờ có được sự phát âm giống như người bản ngữ, nhưng các lỗi phát âm cơ bản sẽ khiến cho việc giao tiếp trở nên khó khăn. Khi đánh giá về kỹ năng phát âm của học sinh, các bạn hãy nghe các từ được phát âm to, rõ ràng, phát âm đúng của các từ không thường thấy, sự đồng âm và các từ rút gọn trong các vị trí khác nhau trong câu. Và cũng hãy nghe âm điệu nữa. Xem học sinh có đang sử dụng uyển chuyển và phù hơp với các loại câu đang nói không? Các bạn học sinh có biết rằng âm điệu của một câu hỏi thì khác với một câu khẳng định như nào không? Nghe kỹ và đánh giá đúng khả năng phát âm của học sinh của mình nhé.

 

 

2/ Từ vựng

 

Sau khi đánh giá khả năng phát âm của học sinh, chuyển sang phần từ vựng. Hiểu từ vựng và dùng từ vựng luôn là 2 phần khác nhau trong suy nghĩ của bất kỳ người sử dụng ngôn ngữ nào, dù là bản ngữ hay là ngoại ngữ. Bạn nên khuyến khích học sinh của mình sử dụng nhiều phần từ vựng nhất có thể, thậm chí nhiều hơn phần họ hiểu. Vì lý do này mà việc đánh giá về từ vựng của học sinh trên trình độ của họ là hết sức cần thiết. Họ có đang sử dụng những từ vựng cụ thể mà họ được học trong kỳ này không? Họ có dùng từ vựng phù hợp với ngữ cảnh không? Nghe xem mức độ sử dụng từ vựng của học sinh mà không có sự nhắc nhở nào rồi đánh giá xem trình độ của các bạn học sinh đang ở đâu.

 

3/ Tính đúng đắn

 

Ngữ pháp đã và sẽ luôn luôn là một khía cạnh quan trọng khi học ngoại ngữ. Viết đúng một câu trong bài thi, dù sao thì cũng không giống như mắc lỗi khi nói. Khi học sinh nói, hãy để ý tới các cấu trúc ngữ pháp và các công cụ mà bạn đã dạy các bạn ấy. Họ có khả năng sử dụng cùng lúc nhiều thì không? Họ có nhất quán không, thứ tự từ đã đúng chưa? Tất cả những điều trên là những vấn đề quan trọng trong ngữ pháp mà một người học ngôn ngữ thành công sẽ hiểu và làm chủ được.

 

4/ Giao tiếp

 

Một học sinh có thể gặp vấn đề với ngữ pháp và phát âm, nhưng họ sẽ sáng tạo như nào khi giao tiếp bằng ngôn ngữ mà các bạn ấy được học? Đánh giá việc giao tiếp của học viên là bạn xem xét các khía cạnh sáng tạo của họ khi sử dụng ngôn ngữ để khiến người khác hiểu được. Một học sinh với mức độ sử dụng từ vựng và ngữ pháp thấp có thể có một kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nếu cô ấy có thể khiến cho mọi người hiểu những gì cô ấy nói, trong khi một bạn khác với một kỹ năng “tạo ra” các đoạn hội thoại phức tạp lại không thể bày tỏ được ý tưởng của mình sẽ bị đánh giá là kỹ năng giao tiếp kém. Đừng để sự thiếu hụt một kỹ năng ngôn ngữ khiến học sinh trở nên khó khăn trong việc bộc lộ bản thân. Họ càng sáng tạo với ngôn ngữ bao nhiêu, họ càng dễ để bày tỏ bản thân một cách độc đáo bấy nhiêu, từ đó mà kỹ năng giao tiếp nói chung của họ sẽ được đánh giá cao hơn.

 

5/ Tương tác

 

Có thể nói những gì bạn nghĩ bằng ngoại ngữ chỉ là một thứ, có thể tương tác với người khác lại là chuyện khác. Hãy hỏi học viên của bạn những câu hỏi. Quan sát cách các bạn ấy trả lời. Các bạn học sinh có thực sự hiểu và có thể trả lời câu hỏi không? Họ có thể trả lời khi bạn đưa ra câu hỏi không? Mỗi câu hỏi đưa ra có được trả lời hợp lý không? Tất cả những yếu tố trên là cần thiết để một người có thể giao tiếp hiệu quả bằng ngoại ngữ. Một học sinh với một kỹ năng tương tác tốt sẽ có thể trả lời câu hỏi và kéo dài hội thoại xung quanh đó. Kỹ năng diễn thuyết tốt sẽ không giúp được gì nếu như anh ấy/cô ấy không lắng nghe và phản hồi mọi người một cách phù hợp. Hãy khuyến khích học sinh nói, lắng nghe và phản hồi với mọi người trong mỗi cuộc hội thoại.

 

6/ Lưu loát

 

Đây có thể là tiêu chí dễ nhất để đánh giá khả năng nói của một học sinh. Họ có cảm thấy thoải mái khi nói không. Họ có gặp khó khăn trong việc sử dụng từ vựng không? Họ có phải dừng, và dành thời gian để nghĩ từ nhiều không. Nếu có thì học sinh đang gặp vấn đề với sự lưu loát, trôi chảy. Việc này khó có thể cải thiện như khi cải thiện các khía cạnh khác của ngôn ngữ. Bạn có thể có một trình độ siêu đỉnh về ngữ pháp nhưng lại vẫn bị lỗi khi giao tiếp, ngắc ngứ. Bạn muốn học sinh của mình có thể thoải mái sử dụng ngôn ngữ với bạn hoặc với những người nói tiếng Anh khác. Yếu tố lưu loát chính là một yếu tố quan trọng cần có trong khi đánh giá một bài nói.

 

Kết lại, các yếu tố đánh giá trên, phát âm, từ vựng, tính đúng đắn, kỹ năng giao tiếp, sự tương tác và lưu loát, tất cả đều phản ánh khả năng nói nói chung của một người học ngôn ngữ.

 

Học sinh có thể siêu ở một khía cạnh và khó ở một khía cạnh khác, và không nhất thiết là khía cạnh mà bạn đang nghĩ đến. Hãy giúp học sinh hiểu những tiêu chí này và sự ảnh hưởng của nó tới việc nói tiếng Anh. Hãy để học sinh hiểu rằng bạn sẽ lắng nghe khi đánh giá họ và giúp họ cải thiện trong tất cả các khía cạnh. Dĩ nhiên, không chỉ lắng nghe khi họ nói với bạn, hãy lắng nghe khi các bạn ấy nói với nhau nữa.

Sau cùng, hầu hết các phần tiếng Anh mà học sinh của bạn sử dụng trong tương lai cũng sẽ dùng với những người không phải bản ngữ khác. Hãy nhớ, một sự đánh giá đúng đắn sẽ đến từ quá trình nhiều hơn là từ một bài kiểm tra vấn đáp cuối kỳ. Hãy xem các bạn ấy đã cố gắng như nào, và khuyến khích các bạn ấy với tư cách của một người dạy, và của một người học. Tin tôi đi, bạn cũng sẽ nhận được nhiều lợi ích nữa, thật đấy.

 

 

MLEC, Mar 2017

 

[Học TA] 5 điều cần nhớ khi học nói tiếng Anh

Làm thế nào để tăng sự tự tin khi nói tiếng Anh?

Có vài điều cần nhớ mà MLEC muốn mang tới để MLES chia sẻ cùng mọi người nhé.

5 điều cần nhớ khi học nói tiếng Anh

rule-1-always-listen-to-yourself-and-say-yes-you-can

  1. Đừng học quá nhiều ngữ pháp

Điều đầu tiên nghe lạ đối với nhiều học sinh học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ 2, nhưng đây lại là một trong những điều quan trọng. Nếu bạn muốn vượt qua kỳ thi, hãy học ngữ pháp. Tuy nhiên, nếu bạn muốn nói tiếng Anh lưu loát, thì bạn nên cố gắng học tiếng Anh mà không học quá nhiều ngữ pháp. Học ngữ pháp sẽ khiến bạn chậm lại và gây bối rối. Bạn sẽ nghĩ về các quy tắc ngữ pháp khi cố gắng tạo câu thay vì nói ra một câu tiếng Anh một cách tự nhiên như 1 người bản ngữ. Nhớ rằng chỉ một phần nhỏ người nói tiếng Anh biết hơn 20% các quy tắc ngữ pháp thôi. Rất nhiều học sinh ESL (học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ 2) biết nhiều quy tắc ngữ pháp hơn người bản ngữ. Tôi là một giáo viên tiếng Anh, ngành học về văn học Anh, có kinh nghiệm hơn 10 năm giảng dạy. Tuy nhiên, rất nhiều học sinh của tôi lại biết chi tiết về ngữ pháp tiếng Anh hơn tôi. Tôi có thể dễ dàng tìm thấy các định nghĩa của chúng và áp dụng chúng, nhưng tôi không nghĩ về chúng quá nhiều.

Tôi thường hỏi những người bạn bản ngữ của tôi về các câu hỏi ngữ pháp, và chỉ có vài người trong số họ biết câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, họ nói lưu loát, và có thể đọc, nói, nghe và giao tiếp hiệu quả. Bạn có muốn có khả năng kể lại trôi chảy định nghĩa của một động từ nguyên nhân, hay bạn muốn nói tiếng Anh trơn tru, tự tin?

  1. Học và ghi nhớ các cụm từ

Rất nhiều học sinh học từ vựng và cố gắng ghép từ lại với nhau để tạo thành câu. Nó làm tôi sửng sốt khi biết về số lượng từ mà một vài học sinh của tôi biết, nhưng các bạn ấy không thể tạo thành một câu đúng. Lý do là vì họ đã không học các cụm từ. Khi một đứa trẻ học ngôn ngữ, chúng học cả từ và cụm từ với nhau. Giống như vậy, bạn cũng cần học và ghi nhớ các cụm từ. Nếu bạn biết 1000 từ, chưa chắc bạn đã có thể nói một câu đúng. Nhưng nếu bạn biết 1 cụm từ, bạn có thể tạo ra hàng trăm câu đúng. Nếu bạn biết 100 cụm từ, bạn sẽ kinh ngạc trước số câu đúng mà bạn có thể nói đấy. Và nếu bạn biết 1000 cụm từ, bạn sẽ gần như trở thành một người nói tiếng Anh lưu loát. Vì thế đừng dành quá nhiều thời gian để học từng từ từng từ tiếng Anh khác nhau mà hãy dùng thời gian đó để học các cụm từ để dần trở nên lưu loát tiếng Anh.

Đừng dịch.

Khi bạn muốn tạo thành một câu tiếng Anh, đừng có dịch từ tiếng mẹ đẻ theo kiểu từ theo từ, vì thứ tự các từ có thể hoàn toàn khác nhau và điều đó sẽ không chỉ khiến bạn chậm hơn mà còn khiến bạn bị sai nữa đấy. Thay vào đó hãy học cụm từ và câu để bạn có thể tự động nói mà không phải nghĩ đến từng từ tiếng Anh nữa.

Một vấn đề khác của việc dịch là khi bạn cố gắng sử dụng các quy tắc ngữ pháp mà bạn mới được học cũng sẽ khiến bạn chậm lại. Việc dịch và cố gắng nghĩ tới các quy tắc ngữ pháp là một công thức sai mà bạn nên tránh.

  1. Đọc và nghe là KHÔNG ĐỦ. Phải thực hành nói những gì bạn nghe được

Đọc, nghe, và nói là những khía cạnh quan trọng của một ngôn ngữ. Và điều đó cũng đúng với tiếng Anh. Tuy nhiên, việc luyện nói là yêu cầu duy nhất cho việc nói trôi chảy, lưu loát. Cũng thật bình thường đối với các em nhỏ học nói trước, trở nên lưu loát, rồi mới bắt đầu đọc, và viết. Vì thế, thứ tự học tập ngôn ngữ tự nhiên chính là nghe, nói, đọc, viết.

Vấn đề thứ nhất.

Có lạ không khi trường học trên toàn thế giới dạy đọc trước, sau đó học viết, rồi học nghe, cuối cùng mới là học nói? Mặc dù điều đó khác biệt, lý do chính là vì khi bạn học ngôn ngữ thứ 2, bạn cần đọc các tài liệu để heieu và học chúng. Vì thế kể cả thứ tự học tập ngôn ngữ tự nhiên là nghe nói đọc viết thì bạn vẫn phải học theo thứ tự đọc nghe nói viết.

Vấn đề thứ hai

Lý do có rất nhiều người có thể đọc và nghe là vì họ đã luyện tập rất nhiều. Nhưng để nói tiếng Anh lưu loát, bạn cần luyện nói. Không chỉ dừng lại ở phần nghe, và khi bạn học, đừng chỉ nghe không. Nói thành lời những gì bạn đang nghe và thực hành những gì bạn nghe. Thực hành nói thành lời cho đến khi miệng và não có thể nói mà không cần dùng quá nhiều có gắng. Bằng cách đó, bạn sẽ nói tiếng Anh lưu loát.

  1. Tự nhúng mình

Có khả năng nói một ngôn ngữ nào đó không liên quan đến việc bạn thông minh cỡ nào. Ai cũng có thể học nói bất kỳ ngôn ngữ nào. Đây là một thực tế đã được chứng minh bởi mọi người trên toàn thế giới. Mọi người đều có thể ít nhất một ngôn ngữ. Không cần biết bạn có thông minh không, hay thiếu một vài phần của não bộ, bạn vẫn có thể nói một ngôn ngữ.

Có thể đạt đươc điều đó khi bạn được bao quanh bởi ngôn ngữ mọi lúc. Ở đất nước bạn, các bạn sẽ nghe và nói ngôn ngữ của mình trong hầu hết các trường hợp. Bạn sẽ thấy có nhiều người giỏi tiếng Anh chỉ vì học ở một ngôi trường chỉ nói toàn tiếng Anh. Họ có thể nói tiếng anh không phải vì họ đến một ngôi trường chỉ nói tiếng Anh, mà vì họ có một môi trường mà mọi người xung quanh họ hầu như chỉ nói tiếng Anh.

Cũng có nhiều người đi du học nhưng học được rất ít. Đó là bởi vì họ đến những ngôi trường nói tiếng Anh, nhưng lại tìm những người bạn đồng hương và không luyện nói tiếng Anh nhiều.

Bạn không cần phải đi đâu xa xôi để trở thành một người nói tiếng Anh trôi chảy. Bạn chỉ cần xung quanh bạn là một môi trường nói tiếng Anh là được. Bạn có thể đạt được điều đó với việc đặt ra những điều khoản cho những người bạn của mình rằng họ sẽ chỉ nói tiếng Anh với bạn. Bạn cũng có thể đeo một cái máy nghe nhạc và nghe tiếng Anh mọi lúc, mọi nơi có thể.

  1. Học đúng học liệu

Một câu nói phổ biến nhưng không đúng là “practice makes perfect”. Câu này sai quá sai luôn. Thực tế là luyện tập sẽ chỉ khiến bạn có một thói quen khó bỏ mà thôi. Nên nếu bạn thực hành sai thì bạn sẽ nói câu sai một cách hoàn hảo. Vì thế, việc quan trọng là phải đúng ngay từ đầu, thứ mà ai cũng dùng.

Một vấn đề khác là tôi thấy rất nhiều học sinh thích học các tin tức. Tuy nhiên, ngôn ngữ họ nói lại rất trang trọng và nội dung họ nói thường về các vấn đề chính trị và ít dùng trong cuộc sống hàng ngày. Rất quan trọng để hiểu những gì họ nói, nhưng đây nên là một bài học nâng cao sau khi học những kiến thức cơ bản nền tảng của tiếng Anh.

Học tiếng Anh với một người bạn không phải người bản ngữ là một điều tốt và cũng là một điều xấu. Bạn nên nhận ra được điểm được cũng như điểm chưa được của việc nói tiếng Anh với một người không phải là bản ngữ. Luyện tập như vậy sẽ giúp bạn luyện tập, bạn cũng có động lực để chỉ ra lỗi sai cơ bản của nhau. Nhưng bạn có thể có một thói quen xấu đó là không chắc chắn về những lỗi mà mình muốn sửa của bạn mình. Vì thế hãy dùng thời gian luyện tập đó để thực hành những câu đúng mà bạn đã học. Đừng học để nói một câu.

Trong tương lai gần, hãy học các học liệu tiếng Anh đáng tin, thường được sử dụng và quan trọng là nó phải đúng.

MLEC, Mar – 2017

Dịch từ: http:// www. talkenglish. com /extralessons/ speakingrules.aspx

[Học TA] 5 lợi ích của “Gấu” đối với việc học tiếng Anh

Khỏi phải nói về câu chuyện khi bạn có “gấu”, cuộc đời bạn sẽ trở nên “vui vẻ” và hạnh phúc đến mức nào nhé. Nhưng trong câu chuyện hôm nay, tôi muốn nói với các bạn về lợi ích của việc có “gấu” đối với việc học phát âm. Cùng chia sẻ với MLEC nhé các bạn.
gau-bong
  1. Động lực học tập
Hãy thử tưởng tượng nếu gấu bạn là một người siêu về ngôn ngữ, nàng có thể nói cả tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Hàn và vô cùng nhiều thứ tiếng khác nữa thì bạn sẽ thấy mình thực sự cần phải cố gắng nhiều lắm lắm ấy. Thế nên, có gấu là một người giỏi ngôn ngữ là một điều cực kỳ kích thích nhỉ các bạn. Lợi ích đầu tiên đấy nhé.
  1. Giám sát, đốc thúc học tập
Bạn có thể cam kết với gấu về mục tiêu học tập của bạn. Và gấu sẽ là người cùng bạn, giúp bạn giám sát việc bạn thực hiện mục tiêu đó như nào. Lợi quá nhé. Gấu sẽ thay mẹ bạn làm nhiệm vụ người đôn đốc, nhắc nhở.
  1. Giáo viên dạy tiếng
Cái này thì thực sự là ai cũng nhìn ra nhưng mình không khuyến khích vì hiệu quả có vẻ không cao, haha. Nhưng vẫn phải kể ra đây vì đây thực sự được coi là một lợi ích của việc có gấu “xịn”.
  1. Kiểm tra hiệu quả việc học
Học thì phải có người kiểm tra chứ? Đúng không? Ai sẽ là người giúp bạn, gấu bạn đó chứ ai? Đó chính là lợi ích thứ 4 của việc có gấu. Mỗi khi bạn phát âm sai, hoặc dùng sai từ, sai ngữ pháp, gấu sẽ là người giúp bạn chỉnh lại, và bạn sẽ có cảm giác phải cố gắng để thi thố với gấu. Điều này khiến chúng ta liên tưởng tới lợi ích số 1, động lực học tập và lợi ích thứ 3, giáo viên dạy tiếng, đồng thời hàm chứa lợi ích thứ 2, giám sát học tập.
  1. Hôn nhiều dẻo mỏ, phát âm hay
Đây là một điều mà mình phải nói là nó có mối quan hệ tương quan với nhau nhé. Việc hôn giỏi giúp phát âm giỏi là một điều mà mình tin là có quan hệ biện chứng, bạn nào bảo không phải đến đây. Còn việc học phát âm xong hôn giỏi thì đã có học sinh của mình làm chứng, mình tin hoàn toàn, haha.
  1. Mình tin là còn nhiều nữa, các bạn comment nhé!
Chúc các bạn có gấu trong mùa 8/3 và 14/3 này, chúc các bạn học tiếng Anh thật giỏi nữa.
Happy learning
HCMC, 07/03/2017
MLES MLEC

[Học TA] Thành ngữ liên quan tới nghề giáo

Chào cuối tuần cả nhà,

Có rất nhiều thành ngữ trong tiếng Anh như chúng ta đều đã biết, hôm nay MLES chia sẻ với các bạn một số thành ngữ nữa nhé.

Chúc các bạn một cuối tuần vui vẻ và học tốt!

teaching_english

Dạy học là một nghề thật nhiều vinh quang!!!

Cơ hội để có thể giúp người khác tiếp thu được kiến thức và đi xa hơn trong cuộc sống của họ là một công việc mà bạn sẽ nâng niu, trân trọng nó với cả hai tay của mình. Vấn đề là, ai cũng có thể trở thành giáo viên, vì thế thì điều này có liên quan tới tất cả chúng ta.

Để trở thành một giáo viên tốt, bạn phải có rất nhiều thứ và nhiều tiêu chuẩn cần đạt đươc. Có nghĩa là có rất nhiều từ vựng và những điều bạn cần phải biết, phải học về chủ đề này.

Hãy thử xem qua một vài ví dụ nhé

  1. You can’t teach an old dog new tricks
  2. Don’t teach your grandmother to suck eggs
  3. That’ll teach them!
  4. Those who can, do; those who can’t, teach.
  5. Tricks of the trade
  6. To teach someone a lesson
  7. You can lead a horse to water but you can’t make him drink.
  8. Do as I say, not as I do.
  9. To set a good example
  10. Take it from me

Và hãy bắt đầu tìm hiểu về ý nghĩa của chúng nhé.

1/ You can’t teach an old dog new tricks

Ý nghĩa: bạn không thể dạy một con chó già một trò “tiểu xảo” mới. Và với nghĩa đen, đó thực sự là một điều khó. Một con chó càng già thì sẽ càng khó để dạy chúng bất kỳ điều gì, hãy thử mà xem. Vì thế nếu chúng ta áp dụng trường hợp này đối với con người thì cũng không khó để hiểu.

Nếu bạn dùng cụm từ “you can’t teach an old dog new tricks” nghĩa là bạn đang dạy cho ai đó một kỹ năng gì đó mà họ không thể học nó, hoặc họ từ chối việc học nó. Điều này thật tệ nếu ai đó chỉ học các thói quen xấu trong suốt cuộc đời họ.

Đọc ví dụ sau bằng tiếng Anh để hiểu thêm nhé

Pete: Hi Jan, how are you?

JanHi Pete, I’m a little frustrated, I’ve been at my grandmas all afternoon trying to show her how to use her computer.

PeteOh god, I bet that was fun!

JanNot at all. She just doesn’t understand technology and the worst part is she didn’t even say thank you. It was very frustrating.

PeteWell, I guess you can’t teach an old dog new tricks. Be careful not to say this in front of the person that you are describing! It can be seen as offensive or that you are calling them old.

2/ Don’t teach your grandmother to suck eggs

Ý nghĩa: Đừng dạy bà của bạn cách hút (đánh) trứng

Nghe thật lạ phải không, để tôi giải thích

Thực ra không có câu trả lời đích thực nào cho nguồn gốc của thành ngữ này nhưng cũng nên thử tìm hiểu xem sao nhé

Ý nghĩa của câu này là bạn không nên dạy một cái gì đó mới cho 1 người đã quá nhiều kinh nghiệm, trải nghiệm, bởi vì rất có thể là họ đã giỏi cái đó hơn bạn rồi. Thành ngữ này được dùng khi ai đó đang đối xử với bạn một cách thiếu lễ độ. Ý tưởng của nó là vì bà của bạn thì đã biết đánh trứng (hút trứng) từ lâu rồi mà không cần bạn dạy.

Nghe có vẻ kỳ lạ nhưng tôi nghĩ đây là một thành ngữ hay để thoát khỏi sự căng thẳng và làm mọi người cười.

Angela: Okay, Jake, now I’ll show you how to use the present tense.

JakeAngela, I know how to use the present tense. Don’t teach your grandmother to suck eggs.

AngelaOkay, okay! I just thought you didn’t know that yet!

3/ That’ll teach them!

Giờ hãy chuyển sang một cụm từ mang tính “gây hấn” hơn về nghề giáo nhé!

Việc này có liên quan tới sự trả thù hoặc trở nên bình thản với ai đó đã làm điều gì đó tệ hại ở trong quá khứ. Nói chung, kể cả khi chúng ta sống trong nền văn hóa mà chúng ta được dạy là phải tha thứ cho những điều tệ, loài người vẫn luôn muốn trả thù.

Hãy tưởng tượng có ai đó bắt nạt bạn ở trường và bạn không bao giờ có cơ hội đáp trả khi còn đi học. Giờ tưởng tượng là 2 năm sau, kẻ đã bắt nạn bạn gặp phải vấn đề tương tự như khi hắn bắt nạt bạn, bạn có thể nói: That’ll teach him (để đời dạy nó bài học)

Xem đoạn hội thoại này nè:

Hamish: Hey, Tony did you see that the toyshop is closing down?

TonyYeah I did, I used to know the owner of that shop.

HamishHow come?

TonyI bought a toy off him for my son and it broke. I went to ask him for a refund but he refused.

Hamish: Oh okay, no wonder his shop is closing then!

TonyYeah, exactly. That’ll teach him anyway.[/blockquote]

Bạn cũng có thể sử dụng câu này trước khi “sự trả thù” ấy xảy ra. Trong ví dụ này nếu Tony nói với Hamish, I hope his shop closes down, that’ll teach him he would be doing just that.

4/ those who can, do; those who can’t, teach.

Đây là một thành ngữ rất nổi tiếng về nghề giáo ở khắp nơi, nhưng có lẽ chưa phải là một lý do đúng đắn.

Thành ngữ này ngụ ý rằng giáo viên chỉ làm nghề giáo bởi vì họ không đủ giỏi để làm công việc của họ như một nghề khác. Thật là thiếu lễ độ nếu bạn nghĩ như vậy.

Nghề giáo là một nghề cao quý khi mang tới “dịch vụ” mà rất nhiều người khác không làm, đó là chia sẻ kiến thức, và việc chia sẻ đó thật quan trọng, không phải ai cũng có thể làm, do đó ta nói, kỹ năng giảng dạy là một kỹ năng vô giá.

Tôi chắc rằng mọi người sẽ đều gật đầu đồng ý, cùng xem ví dụ nhé.

Keith: So Petunia, what do you do for a living? (what’s your job?)

PetuniaWell I am trying to be a writer, but I am a teacher at the moment.

KeithWell, you know what they say, those you can, do; those who can’t, teach!

PetuniaI actually find that very offensive!

KeithOh, I’m sorry, I’m only joking!

Cũng như nhiều thành ngữ khác, hãy cẩn thận khi sử dụng. Và nếu bạn chọn sử dụng thành ngữ này, hãy nhớ đừng nói trước mặt những người thầy, cô của mình nhé.

5/ Tricks of the trade

Một cụm từ thú vị đây rồi!

Tricks of the trade là những mẩu thông tin mà mọi người lượm lặt với trải nghiệm của họ để làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn. Dĩ nhiên là họ phải trả giá bằng rất nhiều thời gian đánh đổi lấy những trải nghiệm ấy. Bạn có thể nói tricks of the trade giúp bạn cắt góc, hay tiết kiệm thời gian trong những việc mà đáng lý ra bạn đã phải tốn rất nhiều công sức.

Thử nghĩ đến một số tricks of the trade trong công việc của bạn đi

Chúng ta có ở đây một ví dụ khi mà người đầu bếp đã làm trước rất nhiều đồ ăn để chuẩn bị cho khoảng thời gian phục vụ, điều này giúp tiết kiệm thời gian và hoàn thành công việc trong những tình huống gay cấn.

Xem ví dụ dưới đây nhé

Dave: Hey, Ron, I see that you have prepared lots of tomato sauce for tonight.

RonIt’s one of the tricks of the trade, Dave! Tomato pasta is our bestseller so I want to be ready!

DaveAh, I see that makes sense. You’re using your experience well.

Ron: Thanks, Dave.

6/ to teach someone a lesson (Dạy cho ai đó một bài học)

Câu này gần giống câu that’ll teach them. Nhưng có vẻ còn sâu cay hơn

Thường thì câu này được dùng để ám chỉ sự trả thù trong tương lai. Bạn có thể nói I’m going to teach him a lesson, (tôi sẽ dạy cho a ta một bài học) hoặc cũng có thể nói I taught him a lesson (tôi đã dạy cho anh ta một bài học)

Tưởng tượng tất cả những lần bạn bị ai đó làm phiền và bạn trở nên mất kiên nhẫn. Bạn bắt đầu nghĩ rằng bạn sẽ đi tới chỗ người này và hét lên với họ hoặc làm sao để họ nhận ra là hành vị của họ thật quá đáng.

Đó là những gì câu thành ngữ “to teach someone a lesson” muốn truyền tải. Và nó cũng có ý nghĩa rằng bởi vì bạn đã dạy cho họ một bài học, họ sẽ không bao giờ nghĩ đến việc sẽ tái phạm hành động đó một lần nữa.

Ví dụ nhé:

Bill: Neville, did you hear what Tim said about your new car?

Neville: No! What did he say?

Bill: He said that it looks stupid and that you are just trying to get attention.

NevilleOh, is that right?

BillYeah! I was really surprised, I thought Tim liked you.

NevilleI’m going to teach him a lesson about respect. You don’t talk about people like that.

Dĩ nhiên, bạn cũng có thể dạy ai đó một bài học mà không phải trong tâm trạng của sự gây hấn nhưng đây là một câu nói khá thẳng thắn để nói về hoặc nói với ai đó. Lưu ý khi sử dụng nhé.

7/ You can lead a horse to water but you can’t make him drink

Bạn có thể dắt một con ngựa tới chỗ có nước nhưng không thể bắt nó uống nước.

Ý tứ đã rõ trong từng con chữ nhưng tôi sẽ vẫn giải thích khi nào và ở đâu thì bạn có thể sử dụng câu thành ngữ này với một hiệu ứng hiệu quả nhất.

Tưởng tượng bạn và một con ngựa ở sa mạc. Nó đã không được uống nước rất rất lâu rồi và sắp chết khô đến nơi rồi. Rõ ràng là nó cần nước. Vì thế bạn dắt nó tới con sông gần nhất bạn có thể tìm thấy. Bạn không biết tại sao con ngựa không uống nước nhưng bạn đã làm tất cả những gì có thể rồi.

Bây giờ, hãy hình dung tình huống thực tế, bao gồm cả việc giảng dạy nữa. Bạn có thể chỉ cho mọi người thấy làm thế nào để làm được điều gì đó và chỉ cho họ thấy điều gì là đúng nhưng bạn không thể khiến họ thay đổi hoặc bắt họ phải làm điều gì đó mà họ không muốn.

Một ví dụ trong cuộc sống là khi bạn có một người bạn không chịu học hành gì cả. Bạn cố gắng mỗi ngày để chỉ cho họ thấy rằng việc học là tốt, mang sách cho họ mượn và “xin đám” được giúp họ. Vấn đề thực sự là họ không muốn học!

Ví dụ nhé:

GrahamLisa, I’ve tried and tried but I still cannot get Chris to study! He’s going to fail!

LisaI know Graham, I’ve tried too.

Graham: I have written notes for him, I have offered to give him worksheets to improve and I have even offered to study with him. He just won’t do it!

LisaWell, you’ve done everything you can Graham. Sometimes it’s not possible to change somebody like Chris. You can lead a horse to water but you can’t make him drink.

8/ do as I say, not as I do. (làm như tôi nói, đừng nhìn tôi làm)

Câu này chắc chắn đến từ cẩm nang làm cha mẹ!

Bố mẹ có thể trở thành những thầy cô giáo quan trọng nhất trong đời những đứa trẻ nhưng nó cũng thật khó để chắc chắn rằng họ đang thể hiện những hành vi đúng mỗi ngày trước mặt đứa trẻ của họ. Trẻ con thì thông minh và sẽ quan sát tất cả những lỗi lầm dù là nhỏ nhất mà cha mẹ chúng mắc phải!

Trong trường hợp này, nếu bố hoặc mẹ dạy trẻ không được hét lên mà phải nói năng nhỏ nhẹ nhưng rồi họ lại hét lên với những đứa nhóc, chúng sẽ nói “you tell me not to shout, but you’re shouting!” (bố/mẹ bảo con không được la hét và giờ thì bố /mẹ đang la hét nè, hiu hiu”

Thật khó để xí xóa với một lời buộc tội rõ ràng như vậy. Cụm từ này trở nên hữu ích để phụ huynh nói với con cái rằng hãy làm như họ nói chứ đừng bắt chước chính xác những hành vi của họ.

Một ví dụ:

Jonny: Wesley, what have I told you about eating chocolate before you eat dinner?

WesleyYou told me that I shouldn’t do it, but I was really hungry!

JonnyIf you eat chocolate now, then you won’t want to eat your dinner.

Wesley: I saw you eating chocolate before dinner yesterday! Why do you get to do it but I don’t?

Jonny: Now, Wesley, do as I say, not as I do.

Nhưng các bậc phụ huynh à, đừng lạm dụng câu thành ngữ này nhé.

9/ to set a good example (làm một tấm gương tốt)

Việc đó rất quan trọng khi mọi người trở thành những hình mẫu tốt cho trẻ con hoặc học sinh mỗi khi có thể.

Giáo viên và phụ huynh có trách nhiệm dạy dỗ con trẻ bằng cách “set a good example”. Đây là sự mâu thuẫn với thành ngữ phía trên. Nó có nghĩa là bạn phải làm đúng những gì bạn bảo con trẻ phải làm.

Nếu bạn sử dụng sô cô la làm ví dụ một lần nữa, Jonny có thể “set a good example” (trở thành một tấm gương tốt) cho Wesley nếu cậu ấy không ăn sô cô la trước bữa tối. Điều đó sẽ giúp Wesley nhận ra rằng hành vi đó là không đúng

Rất nhiều trẻ em học bằng cách bắt chước theo các hành động của những người mà chúng tôn trọng, yêu quý. Đó là một bản năng mang tính bộ lạc.

Vì thế, rất quan trọng khi “set a good example” cho học sinh của chúng ta.

WesleyMum! Dad told me that I can’t have chocolate before dinner!

Francine: Yes, that’s right, you are not allowed chocolate before you eat your dinner. What’s the problem?

Wesley: Well, I saw him eating chocolate before dinner! It’s not fair that he can do it but I can’t!

Francine: Jonny, is that true?

Jonny: Yes, but I am allowed! I make the rules.

Francine: Come on Jonny, you have to set a good example to your son! No chocolate before dinner!

Hãy cố gắng “set a good example” đối với tất cả mọi người bạn gặp và đối xử với họ theo cách mà bạn muốn được đối xử.

10/ take it from me

Đây là một cách diễn đạt tốt để thể hiện sự thành thạo trong một đề tài cụ thể nào đó hoặc nói chuyện với chính quyền. Bạn cũng có thể dùng nó để nói về những trải nghiệm nhằm giúp những người khác học được từ quá khứ của bạn.

Đây là một câu thành ngữ tốt giúp giáo viên có thể tạo ra những kết nối mang tính cá nhân với học sinh.

Một ví dụ có thể thấy là khi học sinh triền miên đi học muộn bởi vì chúng đi thức khuya đêm hôm trước. Thầy cô sẽ nhắc nhở hành vi đó và nói chuyện với bạn học sinh. Thầy cô sẽ nhớ lại khi họ còn là một học sinh và họ đã không muốn đi ngủ hoặc thậm chí đi học như nào, nhưng giờ đây họ đã có kinh nghiệm và cả hiểu biết để biết rằng việc đi ngủ sớm tốt như thế nào!

Họ có thể nói Take it from me, I used to hate going to bed, I thought it was so boring! But science tells us that it refreshes our brain and helps us to learn at school.

Bạn cũng có thể sử dụng câu này, một cách tự tin nói về một chủ đề mà bạn hiểu rõ. Hãy đọc ví dụ minh họa sau để hiểu rõ hơn.

TeacherMohamed, why are you late again?

MohamedI woke up late sir, so I missed the bus and I had to work.

Teacher: I see. Were you too tired to get up or did you just have a bad morning.

Mohamed: I was too tired, I’m always tired and I don’t know why.

Teacher: Well do you go to bed early?

MohamedNo, I hate sleeping. I prefer staying up late and watching television

Teacher: Well, yes, we all would like to stay up late all the time! Take it from me, I used to be like you, but I realize now how important sleep is for my development.

Mohamed: So, you didn’t go to bed early when you were my age?

TeacherNo! I was always up late, but it’s not the way forward, take it from me.

Mohamed: I understand, I’ll try to go to bed earlier from now on.

MLEC, 23 Feb 2017

[Học TA] Những câu thành ngữ với nguồn gốc gây sốc Phần 2

Tiếp nối phần một, MLEC hôm nay mang tới cho các bạn phần 2 của những thành ngữ với nguồn gốc gây sốc, chúc các bạn học tiếng Anh vui vẻ.

 

Barking up the wrong tree (sủa nhầm cây rồi)

Ý nghĩa: có sự nhầm lẫn về một sự việc hay một tình huống nào đó, một hướng sai.

Nguồn gốc: Câu thành ngữ này liên quan tới những chú chó săn khi đi săn sóc, thường sủa hướng lên trên tán cây nào đó ám chỉ rằng sóc còn ở đó trong khi chúng đã chạy đi từ lâu. Từ sự nhầm lẫn này mà mọi người đã sử dụng câu thành ngữ barking up the wrong tree với ý nghĩa như trên.

 

Turn a blind eye (mở con mắt mù)

Ý nghĩa: phớt lờ thực tế, các diễn biến đang xảy ra

Nguồn gốc: người hùng Naval, tướng Nelson, có một mắt bị chột. Trong một lần khi được thông báo về việc phải dừng tấn công tàu chiến Đan Mạch, ông đã đưa kính viễn vọng lên con mắt chột và vờ như đang soi sao. Sau đó ông nói “tôi chẳng thấy dấu hiệu gì”. Rồi ông hạ lệnh tấn công, và giành chiến thắng.

 

Bury the hatchet (chôn cái lưỡi cày)

Ý nghĩa: dừng tranh cãi và làm hòa với nhau

Nguồn gốc: chuyện kể về thời xưa ở Bắc Mỹ khi người theo Thanh giáo (chủ nghĩa đạo đức) có mâu thuẫn, tranh cãi với những người Mỹ bản địa. Khi thương lượng về hòa bình, những người Mỹ bản địa đã buộc phải chôn tất cả những cái lưỡi cày, dao, gậy tày, và những cái rìu của họ. Những thứ có thể trở thành vũ khí đều đã bị chôn và không thể dùng để gây thương tích.

 

Caught red-handed (bị bắt bàn tay màu đỏ)

Ý nghĩa: bị bắt quả tang khi đang làm một điều gì đó sai trái

Nguồn gốc: nguồn gốc của câu thành ngữ này ở trong luật của người Anh cổ, quy định về việc bất kỳ ai bị phát hiện ra đang hành hạ, tàn sát một con vật không thuộc quyền sở hữu của họ, người đó sẽ bị phạt. Và cách duy nhất một người có thể bị truy tố là nếu khi bị bắt, tay của người ấy còn dính máu của con vật đó.

 

Don’t throw the baby out with the bathwater (đừng ném đứa bé ra ngoài với nước để tắm??!?)

Ý nghĩa: đừng có lỡ  tay bỏ đi những thứ có giá trị lẫn trong những thứ vô dụng khác.

Nguồn gốc: sẽ hơi khó tin chút. Những năm đầu thế kỷ 16, mọi người chỉ tắm một lần trong năm thôi. Không chỉ vậy, họ còn tắm chung mà không thay nước tắm. Người đàn ông lớn trong gia đình sẽ tắm trước, sau đó là những người phụ nữ, và trẻ em và trẻ con cuối cùng. Khi những đứa trẻ được cho vào tắm thì nước tắm đã đầy cặn ghét và rất bẩn. Những người mẹ nghèo với nhiều con nhỏ sẽ phải để ý xem những đứa con của họ có bị đổ ra ngoài cùng với thứ nước tắm đáng sợ kia không.

 

Give the cold shoulder (đưa cho cái vai lạnh)

Ý nghĩa: trở nên lạnh lùng, không thân thiện với một ai đó

Nguồn gốc: thời trung cổ ở Anh, có một tục lệ là khi chủ nhà thấy đã đến lúc người khách nên về, họ sẽ đưa cho khách một miếng thịt lạnh là thịt ở vai của cừu, lợn, hoặc bò băm. Đó là một cách lịch sử để nói rằng “Bạn có thể về rồi, ngay bây giờ”

 

Go the whole nine yards (đi hết 9 thùng)

Ý nghĩa: cố gắng hết sức để làm việc gì đó.

Nguồn gốc: trong thế chiến thứ 2, các phi công tham chiến được trang bị 9 thùng đạn. Khi hết đạn, điều đó có nghĩa là họ đã cố gắng hết sức để hạ mục tiêu với toàn bộ số đạn dươc mà họ có.

keep-calm-and-let-your-hair-down-21

Let one’s hair down (để tóc của ai đó xuống)

Ý nghĩa: thư giãn hoặc an nhàn

Nguồn gốc: thời trung cổ, những người phụ nữ quý tộc khi đi ra đường phải xuất hiện với các bộ tóc được làm theo kiểu quý phái mà thường là kéo lên. Khoảng thời gian duy nhất họ có thể “hạ tóc mình xuống” là khi họ về nhà và nghỉ ngơi, thư giãn.

 

Rub the wrong way (chà sai cách)

Ý nghĩa: làm phiền ai đó

Nguồn gốc: xa xưa ở châu Mỹ, trong thời thuộc địa, những người Mỹ sẽ yêu cầu những người hầu của họ cọ những tấm sàn nhà bằng gỗ sồi “theo đúng cách”. Cách không đúng (không lau lại bằng vải khô sau khi lau bằng giẻ ướt) sẽ khiến cho những mảnh gỗ bị hình thành các vệt sọc và bị bong, tróc sau đó, điều này khiến cho những người chủ nhà khó chịu.

Một cách lý giải khác, nó có thể bắt nguồn từ việc lau chùi lông mèo “không đúng cách” và khiến họ khó chịu.

 

To be continue

MLEC, 22Feb 2017