[Thường thức] 10 nguyên tắc giúp chúng ta có một cuộc hội thoại thú vị hơn

Có thể có một cuộc hội thoại thú vị là một trong những kỹ năng tuyệt vời nhất mà ai cũng muốn có và có thể rèn luyện để có. Một cuộc hội thoại hiệu quả không đơn giản là khả năng có thể nói, mà đó còn là khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác, để biết cách tốt nhất đưa ra các quan điểm của mình. Một vài chia sẻ dưới đây có thể giúp bạn làm điều đó.

 Com course

1/ Tránh đa nhiệm

Bất cứ khi nào bạn đang nói chuyện với ai, hãy sống ở khoảnh khắc đó. Đừng nghĩ về những rắc rối tại văn phòng ngày hôm qua hoặc bạn sẽ ở đâu vào buổi tối ngày mai. Nếu bạn muốn dừng cuộc hội thoại ấy, hãy dừng nó, đừng có một nửa tham gia một nửa đứng ngoài.

 

2/ Đừng tỏ ra “nguy hiểm”

Nếu bạn muốn tuyên bố quan điểm của mình mà không phải sợ phản hồi tranh luận hoặc chống lại hoặc thậm chí là ủng hộ, hãy trở thành một blogger. Bạn cần tham gia vào mọi cuộc đối thoại nếu giả sử rằng bạn luôn có thể học được điều gì đó từ những người xung quanh. Tất cả một người đều là chuyên gia ở một lĩnh vực nào đó.

 

3/ Sử dụng câu hỏi mở

Hãy bắt đầu câu hỏi của bạn với những từ để hỏi như ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao và như thế nào. Nếu bạn đặt ra một câu hỏi khó, bạn sẽ nhận được một câu trả lời hết sức giản đơn. Nếu câu hỏi kiểu như “Bạn có sợ không?” hoặc “Bạn có tức giận không?” câu trả lời sẽ là “có” hoặc “không”. Hãy cho họ cơ hội mô tả chúng vì họ là người hiểu nhất. Câu hỏi kiểu như “Bạn cảm thấy thế nào?” Bởi vì sau khi nghe câu hỏi đó họ thường phải dừng một vài giây để nghĩ về nó, bạn chắc chắn sẽ nhận được những câu trả lời thú vị hơn nhiều.

 

4/ Để nó “lạc trôi” đi

Điều đó có nghĩa là hãy để cho suy nghĩ đến và đi khỏi đầu bạn. Nó giống như kiểu khi đi phỏng vấn, lúc người được hỏi trả lời dài dài trong vài phút rồi người phỏng vấn sẽ đưa ra một câu hỏi rất là không liên quan hoặc một câu hỏi đã từng được trả lời rồi. Điều đó cho thấy có thể người phỏng vấn đã không tiếp nhận thông tin trong khoảng hai phút trước vì anh ta mải nghĩ về câu hỏi rất “tinh tế” đó, và vừa mới quyết định sẽ hỏi nó. Và chúng ta đôi khi cũng vậy. Chúng ta đang ngồi nói chuyện với ai đó, và chúng ta chợt nhớ ra một cái gì đó rất thú vị mới xảy ra vài ngày trước. Và chúng ta dừng nghe. Những câu chuyện và những ý tưởng đang đến với bạn, bạn nên để chúng đến, và đi, một cách tự nhiên.

 

5/ Nếu bạn không biết về điều gì đó hơn là chấp nhận nó và đơn giản nói tôi không biết.

Bất cứ khi nào mọi người tuyên bố trở thành một chuyên gia, họ phải hết sức cẩn thận. Nếu bạn hiểu về một lĩnh vực nào đó đủ rõ để tự tin trở thành chuyên gia, thì hãy trở thành một chuyên gia. Còn không thì hãy nghĩ cho kỹ, những lời đàm tiếu và cái giá phải trả có thể không rẻ chút nào đâu.

 

6/ Đừng đánh đồng kinh nghiệm của bạn và người khác

Nếu ai đó nói về việc mất đi một người thân trong gia đình, đừng bắt đầu nói về bạn trong hoàn cảnh tương tự. Nếu ai đó đang nói đến vấn đề mà anh ấy hay cô ấy đang gặp phải trong cuộc sống cá nhân, đừng nói về bạn đã như thế nào trong những tình huống tương tự, lý do tương tự. Vì nó không giống nhau, nó không bao giờ giống nhau. Tất cả kinh nghiệm là trải nghiệm cá nhân, và quan trọng hơn nó phải liên quan tới bạn. Bạn không cần phải chứng minh bạn đáng kinh ngạc như nào, hay bạn đã phải chịu đựng như nào. Ai đó từng hỏi Stephen Hawking về chỉ số IQ của ông ấy, và ổng nói “Tôi không biết, những kẻ khoe khoang chỉ số IQ là những kẻ thất bại”. Và bạn thấy đấy, trò chuyện không phải một cơ hội quảng cáo bán hàng.

 

7/ Hãy cố gắng đừng tự lặp lại chính mình

Một sự tự hành hạ bản thân và nó sẽ rất đáng chán, và chúng ta lại có vẻ làm như vậy rất nhiều. Đặc biệt là trong công việc hoặc trong những cuộc trò chuyện với lũ trẻ, và khi chúng ta cần làm rõ một vấn đề nào đó, chúng ta cứ liên tục lặp đi lặp lại chính mình. Đừng làm thế.

 

8/ Hãy tránh xa đám cỏ dại

Chân thành mà nói, đừng để bị chậm lại bởi những tiểu tiết. Con người, theo đúng nghĩa đen, không có quan tâm đến việc biết năm, tên, ngày, tất cả những chi tiết đó khiến cho bạn rối trí hơn mà thôi. Và họ cũng đơn giản là không quan tâm. Họ quan tâm tới bạn, họ quan tâm tới những gì bạn thích, những điểm chung, vì thế thì hãy đừng quá chú trọng tới tiểu tiết, bỏ qua đi.

 

9/ Lắng nghe

Đây là một trong những điều quan trọng nhất. Lắng nghe là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà bạn có thể trau dồi. Phật nói, và tôi đang diễn giải lại “nếu miệng bạn mở, bạn đang học học được gì”. Joseph McCormack, tác giả của “BRIEF: Making a Bigger Impact by Saying Less” nói rằng não con người có khả năng hấp thu 750 từ trong một phút, nhưng trung bình một người chỉ có thể nói 150 từ trong 1 phút, điều đó có nghĩa là có hơn 600 từ trôi dạt đâu đó xung quanh trong não người nghe. Và hãy nhìn xem, tôi biết nó sẽ tốn nhiều năng lượng và nỗ lực để thực sự chú ý tới một người, nhưng nếu bạn không thể làm điều đó, bạn không thực sự tham gia đối thoại. Các bạn sẽ chỉ là hai người hết lên những câu vô nghĩa liên quan đến nhau tại cùng một nơi mà thôi. Bạn phải thực sự lắng nghe người khác.

 

10/ Hãy ngắn gọn

Hãy thử cố gắng ngậm miệng lại một cách thường xuyên nhất có thể và để cho cái tư duy mở ra, và tin tôi đi, bạn sẽ không thất vọng đâu. Dù biết có rất nhiều trở ngại của việc trở nên dài dòng, rất nhiều trong số chúng ta khó khăn với việc trở nên ngắn gọn. Một lý do là vì chúng ta tin rằng giải thích nhiều, chúng ta có thể chứng tỏ rằng mình thông minh. Đừng, hãy luôn ngắn gọn nhất có thể. Đừng có nói mãi về một vấn đề, nó có thể khiến người khác cảm thấy cuộc nói chuyện thật nhàm chán đấy.

 

Các bạn đã rút ra những điều lưu ý cho riêng mình chưa, để có một cuộc hội thoại thú vị, hãy cùng tham khảo khóa học tiếng Anh giao tiếp cơ bản online tại

Link: 

http://bit.do/ODailyConversationMLEC

 

MLEC, June 2017

7 học thuyết về học ngôn ngữ của các triết gia

Ngôn ngữ là một công cụ mà loài người sử dụng mỗi ngày để bày tỏ sự đa dạng của cảm xúc, ý tưởng, khái niệm, và hành vi. Việc học ngôn ngữ thứ hai đã và luôn bị coi là một việc không đơn giản, khó hơn nhiều so với cách chúng ta học ngôn ngữ thứ nhất, hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ.

Đó là một suy nghĩ phổ biến, nhưng e là không được đúng cho lắm.

Ta phải học tập rất chăm chỉ để hiểu những gì mọi người quanh ta đang nói tới. Nó không xảy ra chỉ sau một đêm khi ta ngủ, vì thế đừng mong việc học ngôn ngữ dễ. Thực tế thì, nếu chỉ trong một vài năm mà bạn đã có thể thoải mái tự tin sử dụng một ngôn ngữ mới, như vậy thì việc học ngôn ngữ đó đã dễ hơn so với ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) của bạn. Hãy nhớ rằng, bạn vẫn còn học ngôn ngữ mẹ đẻ khi học đến cấp 3, bạn chưa thực sự giỏi như bạn nghĩ đâu ha.

learning-theories

Để học một ngôn ngữ mới nhanh hơn, bạn có thể sẽ phải tìm những học thuyết về ngôn ngữ đúng. Công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta học nhanh hơn qua từng giai đoạn, nhưng đó không phải là thứ duy nhất bạn cần, trên thực tế thì hiệu ứng của nó sẽ nhiều nhất ở lúc mới bắt đầu. Việc nhận ra điều đó sẽ giúp bạn đi nhanh hơn nhiều người. Không có cách nào tốt hơn việc nói về một học thuyết ngôn ngữ với một người hiểu về điều đó. Họ sẽ giúp ta hiểu vì sao và như thế nào mà chúng ta hiểu và suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Cuối cùng, việc đó chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta biết nơi mà suy nghĩ của ta nên ở để có thể thu lượm được nhiều kinh nghiệm học ngôn ngữ nhất.

Hãy cùng xem những triết gia dưới đây nói về việc học ngôn ngữ như nào nhé.

 

 

1/ Plato: một trong những cái tên vĩ đại nhất của triết học phương Tây

Người đời hầu hết biết tới Plato như một triết gia, ít ai biết rằng ông ấy cũng có rất nhiều suy nghĩ thú vị về ngôn ngữ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả vì ngôn ngữ chính là công cụ đắc lực để ông ấy trở thành một triết gia nổi tiếng.

Plato tin rằng kiến thức là thứ gì đó đơn giản là loài người có, nó là tự nhiên, là bẩm sinh. Ý tưởng của Plato gợi lên một vấn đề Plato, khi mà ông ấy tự hỏi bằng cách nào mà con người lại có thể đạt được rất nhiều thành tích, thành tựu với rất ít thời gian cho phép. Ngôn ngữ là một yếu tố tự nhiên, thiên bẩm của con người, và điều đó lý giải tại sao hầu hết loài người có khả năng bắt đầu nói trước khi tổ chức sinh nhật lần thứ 10.

Khi ta cân nhắc cho rằng ngôn ngữ là một phần của quá trình suy nghĩ, nó sẽ đáng lo ngại hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản là học một cách nghĩ khác những suy nghĩ sẵn có trong đầu ta.

 

 

2/ Descartes và học thuyết ngôn ngữ Cartesian

Descartes tin theo ý tưởng của Plato rằng ngôn ngữ chỉ đơn giản là một thứ gì đó con người tự nhiên có. Niềm tin ấy dựa vào niềm tin thực tế cho rằng con người là những tạo vật được tạo ra một cách đúng đắn trên quy mô rộng, và ngôn ngữ là thứ phải có để tương tác với nhau.

Sự vận động của Descartes ở chỗ niềm tin của ông phản ánh thực tế là ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Vấn còn đó rất nhiều điểm chung giống nhau giữa những ngôn ngữ ít giống nhau nhất. Nghe thật phấn khích bởi vì điều đó có nghĩa là bạn có thể tìm thấy điểm chung giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ mà bạn đang có ý định học để bắt đầu hiểu ngôn ngữ được “vận động” như nào.

 

 

3/ Locke và Tabula Rasa

Có thể bạn đã từng nghe về khái niệm “bảng trắng” được đưa ra bởi Locke. Điều đó cho thấy Locke không đồng tình với ý kiến cho rằng mọi thứ là tự nhiên biết. Mọi người bắt đầu với một tấm bảng trắng mà họ sẽ phải điền vào, dĩ nhiên, ngôn ngữ cũng phải học. Mọi thứ đều phải được học từ các giác quan tri nhận. Thôi thì không có gì phải buồn vì chúng ta sẽ tin rằng ai cũng sẽ bắt đầu từ con số 0 để đến với ngôn ngữ mục tiêu mà mình muốn học.

 

 

Ba triết gia này chủ yếu thảo luận về ngôn ngữ trong quá trình chuyển tiếp, chứ không phải đề cập đến nhiều chi tiết cụ thể. Bốn học thuyết sau sẽ nói nhiều hơn đến ngôn ngữ cụ thể.

 

 

4/ Skinner và lý thuyết hành vi (Behaviorism)

Skinner đồng ý với Locke và ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về lý thuyết hành vi. Lý thuyết đó cho rằng tất cả các hành vi là sự phản hồi của các tác nhân kích thích quanh ta. Skinner ứng dụng lý thuyết đó trong học ngôn ngữ thông qua hoạt động có điều kiện, sử dụng sự nhấn mạnh và các hình phạt để dạy. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cha mẹ thường từ chối yêu cầu của trẻ con cho đến khi chúng nói “làm ơn”. Phần thưởng là nhận được thứ chúng muốn, và ý tưởng của việc nói “làm ơn” được nhấn mạnh thông qua phần thưởng.

Lý thuyết hành vi nói rằng chúng ta cần phản hồi để thành công, kể cả việc học ngôn ngữ.

 

 

5/ Chomsky và Universal Grammar

Noam Chomsky phát triển ý tưởng riêng của ông ay trong khi Skinner đang phát triển học thuyết hành vi. Chomsky phát triển thuyết “vũ trụ ngữ pháp”. Nó gần như đối lập với học thuyết của Skinner. Chomsky tin rằng ít nhất thì con người cũng có một chút gì đó khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ. Bằng chứng mà ông đưa ra là một số yếu tố mang tính “vũ trụ” có trong tất cả các ngôn ngữ.

Trong khi học thuyết của Chomsky lý giải nhiều hơn cho việc học ngôn ngữ đầu tiên, nó không có thực sự được áp dụng trong khi nói về việc học ngôn ngữ thứ hai. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng có những yếu tố tương đồng nhau, nhưng không có gì cụ thể giúp cho việc học ngôn ngữ không còn chẳng liên quan gì tới nhau nữa.

 

 

6/ Schumann và mô hình hội nhập

John Schumann đặc biệt quan tâm tới việc những người nhập cư học ngôn ngữ mới ở nơi họ chuyển tới. Học thuyết của ông ấy có tên là “Mô hình hội nhập” và chỉ ra các vấn đề về ngôn ngữ cụ thể hơn nhiều so với các học thuyết khác. Thay vì nghĩ về việc học ngôn ngữ cho vui, ông ta đã xem xét nó khi nó là một việc thiết yếu. Những người nhập cư học một ngôn ngữ mới với nhiều áp lực hơn từ cộng đồng và yếu tố tâm lý. Thường hoặc là thành công, không thì thất bại.

Nếu một người nhập cư có khả năng ngôn ngữ gần hòa nhập với ngôn ngữ ở ngôi nhà mới của họ, họ sẽ được cho là có nhiều khả năng học ngôn ngữ hơn. Điều tương tự cũng đúng nếu yếu tố văn hóa tương đồng. Điểm này chỉ ra rằng có rất nhiều lý do tâm lý và lý do mang tính xã hội cho việc học một ngôn ngữ, ý tưởng mà các triết gia trước đó chưa từng để ý tới.

 

 

7/ Krashen và “mô hình giám sát”

Stephen Krashen biên soạn một vài học thuyết về ngôn ngữ trong đó có những thuyết vẫn còn được sử dụng đến nay để mô tả việc học một ngôn ngữ thứ 2. Những ý kiến chính sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những học thuyết của ông ấy.

  • Tiếp thu một ngôn ngữ thì phần lớn là vô thức bởi vì nguồn gốc của việc học ngôn ngữ đến từ các cuộc hội thoại chính thống và không chính thống.
  • Việc học một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều nỗ lực một cách có ý thức và phụ thuộc nhiều vào sự “chữa lỗi” một cách nghiêm chỉnh.
  • Ngữ pháp thì chủ yếu được học theo một chuỗi có thể đoán được và có thứ tự
  • Tiếp thu một ngôn ngữ xảy ra khi nó được bắt nguồn từ đầu vào dễ hiểu, ví dụ như trò chuyện hoặc đọc.
  • Một người giám sát có thể là bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì chữa lỗi sai ngôn ngữ cho bạn và tạo áp lực cho bạn phải điều chỉnh nó.

Phần cơ bản lấy từ học thuyết nói rằng tiếp thu và học ngôn ngữ là khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm các yếu tố giống nhau. Việc chữa lỗi là cần thiết cho cả tiếp thu và học ngôn ngữ.

 

 

Trong khi không có học thuyết nào thực sự giúp bạn học một ngôn ngữ, nhưng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi biết rằng kể cả kiến thức về việc học một ngôn ngữ cũng vẫn còn đó để thảo luận. Bạn có thể cảm thấy một hoặc vài trong số các học thuyết nêu trên gần tương đồng với những điều mà bạn đang làm để học ngôn ngữ, và biết đâu điều đó có thể giúp bạn hiểu hơn để sử dụng các học thuyết đó giúp cho quá trình học ngôn ngữ của các bạn nhanh hơn và hiệu quả hơn.

 

MLEC chúc các bạn học tốt, và sớm thành công.

 

Source: https://www.optilingo.com/blogs/news/7-language-learning-theories-by-the-masters-of-thought

 

April, 2017

Học tiếng Anh có giống chọn bạn gái không?

Giống không? Giống! Giống sao?

  1. Tiếng Anh thì cũng có rất nhiều “loại” tiếng Anh, giống như có rất nhiều “mẫu” con gái cho các bạn chọn vậy
  2. Và khi bạn chọn tiếng Anh rồi, bạn có thể “chia tay” và chọn lại, nhưng hầu như bạn nên “chung thủy”.
  3. Khi mới bắt đầu, bạn sẽ rất hứng thú với cả tiếng Anh, cũng như với người bạn gái mới của mình.
  4. Việc học sẽ càng ngày càng chán, như bạn cũng biết, nếu như bạn không tìm ra được những điều mới quanh đó/cô ấy mỗi ngày.
  5. Bạn sẽ học tiếng Anh với “kinh nghiệm” của người đi trước, hoặc dò dẫm tự học, như việc yêu cũng vậy.
  6. Niềm vui, nỗi buồn, và cả những giận hờn đến mức muốn “vứt hết đi” sẽ cho bạn những cung bậc cảm xúc hình supersin khi yêu, cũng như khi học tiếng Anh.
  7. Chia tay lên xuống vài lần, hoặc chỉ một lần dứt áo ra đi.
  8. Tình yêu vĩnh cửu, nhưng người yêu thì thay đổi, cũng giống như tiếng Anh là nhu cầu ai cũng có, nhưng học theo phương pháp nào, và “loại” tiếng Anh nào thì mỗi người mỗi khác.
  9. Happy ending của một tình yêu là một đám cưới và hai bạn sống cùng nhau rất lâu sau đó, happy ending của việc học tiếng Anh là việc có thể “chém” tiếng Anh ở bất kỳ đâu, chỗ nào.
  10. Li dị có thể chỉ ngay sau đám cưới, và việc bạn quên, và phải học lại tiếng Anh sau những ngày không học thì cũng có thể chỉ 1 vài…tháng.
  11. Chốt lại là tiếng Anh và bạn gái gần giống nhau ở chỗ, có nhiều “cách” để chọn, nhưng nếu đã chọn, thì hãy “thủy chung”

 i_love_english_poster-rc2e8cde2e7604304a5747486c9ad1066_wvp_8byvr_324

MLEC

April, 2017

HCMC

[Học TA] Làm thế nào để đánh giá một bài nói tiếng Anh

Góc nhìn từ một giáo viên, hôm nay, MLES sẽ chia sẻ với các bạn về cách mà thầy cô đánh giá bài nói của các bạn, qua đó tìm kiếm những chiến lược tăng tốc cải thiện kỹ năng nói của mình nhé.

public-speaking

Bạn đang trong một lớp học nhỏ ở trường ngôn ngữ địa phương hoặc đại học. Gần hết học kỳ rồi, và lớp học nói của bạn đã có những khoảng thời gian vui vẻ suốt cả năm học. Các bạn đã học từ vựng, chơi nhập vai, và tương tác chiến thuật, thậm chí đã luyện tập nói với các bạn khác. Câu hỏi lớn hiện nay là làm sao để đánh giá được quá trình học đó? Bạn có thể nói hoặc không, phải không nào, có thể tốt hoặc chưa tốt. Và tin tốt lành là: bạn có thể đưa ra việc đánh giá các mục tiêu trong lớp học nói. Dựa trên  các tiêu chí đánh giá khả năng nói, bạn có thể đưa lại các ý kiến phản hồi cho học sinh để họ có thể thấy được mức đánh giá là khách quan và có ý chí phấn đấu

 

Tạo ra một bảng tiêu chí chấm (rubric)

 

Hầu hết các giáo viên đều quen với khái niệm về một đề mục đánh giá, một bảng biểu với các tiêu chí khác nhau và một thang đo chấm điểm. Nếu bạn chưa bao giờ tạo ra một thứ gì đó tương tự, thì mình phải nói là nó rất đơn giản. Chỉ cần chọn các tiêu chính sẽ chấm, liệt kê ở góc trái của trang giấy. Sau đó thêm số cột tương đương các thang điểm ở bên phải. Thường thì nên chọn 4 nếu bạn mới bắt đầu tạo bảng. Những cột này sẽ tương đương với mức độ tiềm năng cho các kỹ năng đươc chấm. Ở mỗi tiêu chí, hãy chia mức độ học sinh có thể đạt được ra thành 4 mức rõ ràng với chi tiết các yêu cầu, đòi hỏi. Ví dụ, dễ thấy nhất trên một cái bảng đó thì có “đạt được kỳ vọng cao, đạt kỳ vọng thấp, hơi kém hơn so với mong đợi, không được như kỳ vọng”. Bạn càng tạo nhiều bảng chấm điểm thì bạn càng làm chi tiết hơn trong phần mô tả chấm của bạn. Sau đó, khi bạn đánh giá học sinh của mình, bạn sẽ xác định đâu là trình độ mà cậu ấy/cô ấy đang ở. Chọn ra mức trung bình trong số tất cả các tiêu chí, và đưa ra những gợi ý, những nhận xét về các điểm yếu mà học sinh cần khắc phục, cải thiện.

 

1/ Phát âm

 

Phát âm là một trong những tiêu chuẩn cơ bản của việc học ngôn ngữ. Dù hầu hết những người học ngôn ngữ thứ hai sẽ không bao giờ có được sự phát âm giống như người bản ngữ, nhưng các lỗi phát âm cơ bản sẽ khiến cho việc giao tiếp trở nên khó khăn. Khi đánh giá về kỹ năng phát âm của học sinh, các bạn hãy nghe các từ được phát âm to, rõ ràng, phát âm đúng của các từ không thường thấy, sự đồng âm và các từ rút gọn trong các vị trí khác nhau trong câu. Và cũng hãy nghe âm điệu nữa. Xem học sinh có đang sử dụng uyển chuyển và phù hơp với các loại câu đang nói không? Các bạn học sinh có biết rằng âm điệu của một câu hỏi thì khác với một câu khẳng định như nào không? Nghe kỹ và đánh giá đúng khả năng phát âm của học sinh của mình nhé.

 

 

2/ Từ vựng

 

Sau khi đánh giá khả năng phát âm của học sinh, chuyển sang phần từ vựng. Hiểu từ vựng và dùng từ vựng luôn là 2 phần khác nhau trong suy nghĩ của bất kỳ người sử dụng ngôn ngữ nào, dù là bản ngữ hay là ngoại ngữ. Bạn nên khuyến khích học sinh của mình sử dụng nhiều phần từ vựng nhất có thể, thậm chí nhiều hơn phần họ hiểu. Vì lý do này mà việc đánh giá về từ vựng của học sinh trên trình độ của họ là hết sức cần thiết. Họ có đang sử dụng những từ vựng cụ thể mà họ được học trong kỳ này không? Họ có dùng từ vựng phù hợp với ngữ cảnh không? Nghe xem mức độ sử dụng từ vựng của học sinh mà không có sự nhắc nhở nào rồi đánh giá xem trình độ của các bạn học sinh đang ở đâu.

 

3/ Tính đúng đắn

 

Ngữ pháp đã và sẽ luôn luôn là một khía cạnh quan trọng khi học ngoại ngữ. Viết đúng một câu trong bài thi, dù sao thì cũng không giống như mắc lỗi khi nói. Khi học sinh nói, hãy để ý tới các cấu trúc ngữ pháp và các công cụ mà bạn đã dạy các bạn ấy. Họ có khả năng sử dụng cùng lúc nhiều thì không? Họ có nhất quán không, thứ tự từ đã đúng chưa? Tất cả những điều trên là những vấn đề quan trọng trong ngữ pháp mà một người học ngôn ngữ thành công sẽ hiểu và làm chủ được.

 

4/ Giao tiếp

 

Một học sinh có thể gặp vấn đề với ngữ pháp và phát âm, nhưng họ sẽ sáng tạo như nào khi giao tiếp bằng ngôn ngữ mà các bạn ấy được học? Đánh giá việc giao tiếp của học viên là bạn xem xét các khía cạnh sáng tạo của họ khi sử dụng ngôn ngữ để khiến người khác hiểu được. Một học sinh với mức độ sử dụng từ vựng và ngữ pháp thấp có thể có một kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nếu cô ấy có thể khiến cho mọi người hiểu những gì cô ấy nói, trong khi một bạn khác với một kỹ năng “tạo ra” các đoạn hội thoại phức tạp lại không thể bày tỏ được ý tưởng của mình sẽ bị đánh giá là kỹ năng giao tiếp kém. Đừng để sự thiếu hụt một kỹ năng ngôn ngữ khiến học sinh trở nên khó khăn trong việc bộc lộ bản thân. Họ càng sáng tạo với ngôn ngữ bao nhiêu, họ càng dễ để bày tỏ bản thân một cách độc đáo bấy nhiêu, từ đó mà kỹ năng giao tiếp nói chung của họ sẽ được đánh giá cao hơn.

 

5/ Tương tác

 

Có thể nói những gì bạn nghĩ bằng ngoại ngữ chỉ là một thứ, có thể tương tác với người khác lại là chuyện khác. Hãy hỏi học viên của bạn những câu hỏi. Quan sát cách các bạn ấy trả lời. Các bạn học sinh có thực sự hiểu và có thể trả lời câu hỏi không? Họ có thể trả lời khi bạn đưa ra câu hỏi không? Mỗi câu hỏi đưa ra có được trả lời hợp lý không? Tất cả những yếu tố trên là cần thiết để một người có thể giao tiếp hiệu quả bằng ngoại ngữ. Một học sinh với một kỹ năng tương tác tốt sẽ có thể trả lời câu hỏi và kéo dài hội thoại xung quanh đó. Kỹ năng diễn thuyết tốt sẽ không giúp được gì nếu như anh ấy/cô ấy không lắng nghe và phản hồi mọi người một cách phù hợp. Hãy khuyến khích học sinh nói, lắng nghe và phản hồi với mọi người trong mỗi cuộc hội thoại.

 

6/ Lưu loát

 

Đây có thể là tiêu chí dễ nhất để đánh giá khả năng nói của một học sinh. Họ có cảm thấy thoải mái khi nói không. Họ có gặp khó khăn trong việc sử dụng từ vựng không? Họ có phải dừng, và dành thời gian để nghĩ từ nhiều không. Nếu có thì học sinh đang gặp vấn đề với sự lưu loát, trôi chảy. Việc này khó có thể cải thiện như khi cải thiện các khía cạnh khác của ngôn ngữ. Bạn có thể có một trình độ siêu đỉnh về ngữ pháp nhưng lại vẫn bị lỗi khi giao tiếp, ngắc ngứ. Bạn muốn học sinh của mình có thể thoải mái sử dụng ngôn ngữ với bạn hoặc với những người nói tiếng Anh khác. Yếu tố lưu loát chính là một yếu tố quan trọng cần có trong khi đánh giá một bài nói.

 

Kết lại, các yếu tố đánh giá trên, phát âm, từ vựng, tính đúng đắn, kỹ năng giao tiếp, sự tương tác và lưu loát, tất cả đều phản ánh khả năng nói nói chung của một người học ngôn ngữ.

 

Học sinh có thể siêu ở một khía cạnh và khó ở một khía cạnh khác, và không nhất thiết là khía cạnh mà bạn đang nghĩ đến. Hãy giúp học sinh hiểu những tiêu chí này và sự ảnh hưởng của nó tới việc nói tiếng Anh. Hãy để học sinh hiểu rằng bạn sẽ lắng nghe khi đánh giá họ và giúp họ cải thiện trong tất cả các khía cạnh. Dĩ nhiên, không chỉ lắng nghe khi họ nói với bạn, hãy lắng nghe khi các bạn ấy nói với nhau nữa.

Sau cùng, hầu hết các phần tiếng Anh mà học sinh của bạn sử dụng trong tương lai cũng sẽ dùng với những người không phải bản ngữ khác. Hãy nhớ, một sự đánh giá đúng đắn sẽ đến từ quá trình nhiều hơn là từ một bài kiểm tra vấn đáp cuối kỳ. Hãy xem các bạn ấy đã cố gắng như nào, và khuyến khích các bạn ấy với tư cách của một người dạy, và của một người học. Tin tôi đi, bạn cũng sẽ nhận được nhiều lợi ích nữa, thật đấy.

 

 

MLEC, Mar 2017