7 học thuyết về học ngôn ngữ của các triết gia

Ngôn ngữ là một công cụ mà loài người sử dụng mỗi ngày để bày tỏ sự đa dạng của cảm xúc, ý tưởng, khái niệm, và hành vi. Việc học ngôn ngữ thứ hai đã và luôn bị coi là một việc không đơn giản, khó hơn nhiều so với cách chúng ta học ngôn ngữ thứ nhất, hay còn được gọi là tiếng mẹ đẻ.

Đó là một suy nghĩ phổ biến, nhưng e là không được đúng cho lắm.

Ta phải học tập rất chăm chỉ để hiểu những gì mọi người quanh ta đang nói tới. Nó không xảy ra chỉ sau một đêm khi ta ngủ, vì thế đừng mong việc học ngôn ngữ dễ. Thực tế thì, nếu chỉ trong một vài năm mà bạn đã có thể thoải mái tự tin sử dụng một ngôn ngữ mới, như vậy thì việc học ngôn ngữ đó đã dễ hơn so với ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) của bạn. Hãy nhớ rằng, bạn vẫn còn học ngôn ngữ mẹ đẻ khi học đến cấp 3, bạn chưa thực sự giỏi như bạn nghĩ đâu ha.

learning-theories

Để học một ngôn ngữ mới nhanh hơn, bạn có thể sẽ phải tìm những học thuyết về ngôn ngữ đúng. Công nghệ thông tin có thể giúp chúng ta học nhanh hơn qua từng giai đoạn, nhưng đó không phải là thứ duy nhất bạn cần, trên thực tế thì hiệu ứng của nó sẽ nhiều nhất ở lúc mới bắt đầu. Việc nhận ra điều đó sẽ giúp bạn đi nhanh hơn nhiều người. Không có cách nào tốt hơn việc nói về một học thuyết ngôn ngữ với một người hiểu về điều đó. Họ sẽ giúp ta hiểu vì sao và như thế nào mà chúng ta hiểu và suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Cuối cùng, việc đó chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta biết nơi mà suy nghĩ của ta nên ở để có thể thu lượm được nhiều kinh nghiệm học ngôn ngữ nhất.

Hãy cùng xem những triết gia dưới đây nói về việc học ngôn ngữ như nào nhé.

 

 

1/ Plato: một trong những cái tên vĩ đại nhất của triết học phương Tây

Người đời hầu hết biết tới Plato như một triết gia, ít ai biết rằng ông ấy cũng có rất nhiều suy nghĩ thú vị về ngôn ngữ. Không có gì đáng ngạc nhiên cả vì ngôn ngữ chính là công cụ đắc lực để ông ấy trở thành một triết gia nổi tiếng.

Plato tin rằng kiến thức là thứ gì đó đơn giản là loài người có, nó là tự nhiên, là bẩm sinh. Ý tưởng của Plato gợi lên một vấn đề Plato, khi mà ông ấy tự hỏi bằng cách nào mà con người lại có thể đạt được rất nhiều thành tích, thành tựu với rất ít thời gian cho phép. Ngôn ngữ là một yếu tố tự nhiên, thiên bẩm của con người, và điều đó lý giải tại sao hầu hết loài người có khả năng bắt đầu nói trước khi tổ chức sinh nhật lần thứ 10.

Khi ta cân nhắc cho rằng ngôn ngữ là một phần của quá trình suy nghĩ, nó sẽ đáng lo ngại hơn nhiều so với việc bạn chỉ đơn giản là học một cách nghĩ khác những suy nghĩ sẵn có trong đầu ta.

 

 

2/ Descartes và học thuyết ngôn ngữ Cartesian

Descartes tin theo ý tưởng của Plato rằng ngôn ngữ chỉ đơn giản là một thứ gì đó con người tự nhiên có. Niềm tin ấy dựa vào niềm tin thực tế cho rằng con người là những tạo vật được tạo ra một cách đúng đắn trên quy mô rộng, và ngôn ngữ là thứ phải có để tương tác với nhau.

Sự vận động của Descartes ở chỗ niềm tin của ông phản ánh thực tế là ngôn ngữ được sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Vấn còn đó rất nhiều điểm chung giống nhau giữa những ngôn ngữ ít giống nhau nhất. Nghe thật phấn khích bởi vì điều đó có nghĩa là bạn có thể tìm thấy điểm chung giữa tiếng Anh và một ngôn ngữ mà bạn đang có ý định học để bắt đầu hiểu ngôn ngữ được “vận động” như nào.

 

 

3/ Locke và Tabula Rasa

Có thể bạn đã từng nghe về khái niệm “bảng trắng” được đưa ra bởi Locke. Điều đó cho thấy Locke không đồng tình với ý kiến cho rằng mọi thứ là tự nhiên biết. Mọi người bắt đầu với một tấm bảng trắng mà họ sẽ phải điền vào, dĩ nhiên, ngôn ngữ cũng phải học. Mọi thứ đều phải được học từ các giác quan tri nhận. Thôi thì không có gì phải buồn vì chúng ta sẽ tin rằng ai cũng sẽ bắt đầu từ con số 0 để đến với ngôn ngữ mục tiêu mà mình muốn học.

 

 

Ba triết gia này chủ yếu thảo luận về ngôn ngữ trong quá trình chuyển tiếp, chứ không phải đề cập đến nhiều chi tiết cụ thể. Bốn học thuyết sau sẽ nói nhiều hơn đến ngôn ngữ cụ thể.

 

 

4/ Skinner và lý thuyết hành vi (Behaviorism)

Skinner đồng ý với Locke và ông đã dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về lý thuyết hành vi. Lý thuyết đó cho rằng tất cả các hành vi là sự phản hồi của các tác nhân kích thích quanh ta. Skinner ứng dụng lý thuyết đó trong học ngôn ngữ thông qua hoạt động có điều kiện, sử dụng sự nhấn mạnh và các hình phạt để dạy. Một trong những ví dụ điển hình nhất là cha mẹ thường từ chối yêu cầu của trẻ con cho đến khi chúng nói “làm ơn”. Phần thưởng là nhận được thứ chúng muốn, và ý tưởng của việc nói “làm ơn” được nhấn mạnh thông qua phần thưởng.

Lý thuyết hành vi nói rằng chúng ta cần phản hồi để thành công, kể cả việc học ngôn ngữ.

 

 

5/ Chomsky và Universal Grammar

Noam Chomsky phát triển ý tưởng riêng của ông ay trong khi Skinner đang phát triển học thuyết hành vi. Chomsky phát triển thuyết “vũ trụ ngữ pháp”. Nó gần như đối lập với học thuyết của Skinner. Chomsky tin rằng ít nhất thì con người cũng có một chút gì đó khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ. Bằng chứng mà ông đưa ra là một số yếu tố mang tính “vũ trụ” có trong tất cả các ngôn ngữ.

Trong khi học thuyết của Chomsky lý giải nhiều hơn cho việc học ngôn ngữ đầu tiên, nó không có thực sự được áp dụng trong khi nói về việc học ngôn ngữ thứ hai. Nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh rằng có những yếu tố tương đồng nhau, nhưng không có gì cụ thể giúp cho việc học ngôn ngữ không còn chẳng liên quan gì tới nhau nữa.

 

 

6/ Schumann và mô hình hội nhập

John Schumann đặc biệt quan tâm tới việc những người nhập cư học ngôn ngữ mới ở nơi họ chuyển tới. Học thuyết của ông ấy có tên là “Mô hình hội nhập” và chỉ ra các vấn đề về ngôn ngữ cụ thể hơn nhiều so với các học thuyết khác. Thay vì nghĩ về việc học ngôn ngữ cho vui, ông ta đã xem xét nó khi nó là một việc thiết yếu. Những người nhập cư học một ngôn ngữ mới với nhiều áp lực hơn từ cộng đồng và yếu tố tâm lý. Thường hoặc là thành công, không thì thất bại.

Nếu một người nhập cư có khả năng ngôn ngữ gần hòa nhập với ngôn ngữ ở ngôi nhà mới của họ, họ sẽ được cho là có nhiều khả năng học ngôn ngữ hơn. Điều tương tự cũng đúng nếu yếu tố văn hóa tương đồng. Điểm này chỉ ra rằng có rất nhiều lý do tâm lý và lý do mang tính xã hội cho việc học một ngôn ngữ, ý tưởng mà các triết gia trước đó chưa từng để ý tới.

 

 

7/ Krashen và “mô hình giám sát”

Stephen Krashen biên soạn một vài học thuyết về ngôn ngữ trong đó có những thuyết vẫn còn được sử dụng đến nay để mô tả việc học một ngôn ngữ thứ 2. Những ý kiến chính sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về những học thuyết của ông ấy.

  • Tiếp thu một ngôn ngữ thì phần lớn là vô thức bởi vì nguồn gốc của việc học ngôn ngữ đến từ các cuộc hội thoại chính thống và không chính thống.
  • Việc học một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều nỗ lực một cách có ý thức và phụ thuộc nhiều vào sự “chữa lỗi” một cách nghiêm chỉnh.
  • Ngữ pháp thì chủ yếu được học theo một chuỗi có thể đoán được và có thứ tự
  • Tiếp thu một ngôn ngữ xảy ra khi nó được bắt nguồn từ đầu vào dễ hiểu, ví dụ như trò chuyện hoặc đọc.
  • Một người giám sát có thể là bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì chữa lỗi sai ngôn ngữ cho bạn và tạo áp lực cho bạn phải điều chỉnh nó.

Phần cơ bản lấy từ học thuyết nói rằng tiếp thu và học ngôn ngữ là khác nhau, nhưng chúng có thể bao gồm các yếu tố giống nhau. Việc chữa lỗi là cần thiết cho cả tiếp thu và học ngôn ngữ.

 

 

Trong khi không có học thuyết nào thực sự giúp bạn học một ngôn ngữ, nhưng có thể khiến bạn cảm thấy dễ chịu hơn khi biết rằng kể cả kiến thức về việc học một ngôn ngữ cũng vẫn còn đó để thảo luận. Bạn có thể cảm thấy một hoặc vài trong số các học thuyết nêu trên gần tương đồng với những điều mà bạn đang làm để học ngôn ngữ, và biết đâu điều đó có thể giúp bạn hiểu hơn để sử dụng các học thuyết đó giúp cho quá trình học ngôn ngữ của các bạn nhanh hơn và hiệu quả hơn.

 

MLEC chúc các bạn học tốt, và sớm thành công.

 

Source: https://www.optilingo.com/blogs/news/7-language-learning-theories-by-the-masters-of-thought

 

April, 2017

Blended learning in modern busy life

Global educational trends – xu hướng học tập toàn cầu

Hòa chung vào không khí tấp nập của toàn nhân loại trong con đường đến với tri thức. Sự thích nghi của người học (learners) trên toàn thế giới nói chung và người học tại Việt Nam nói riêng được thể hiện rõ qua các công cụ mà chúng ta sử dụng để học tập hiện tại, MLEC xin gửi tới các bạn một bài dịch nói về các xu hướng học tập toàn cầu hiện nay. Và cũng xin gửi tới quý bạn đọc những thông tin cập nhật về các khóa học blended (sử dụng học liệu từ EnglishCentral) mà MLEC hiện đang offer tới các học viên bận rộn mà ham học của mình.

  1. Khóa học “Tiếng Anh giao tiếp hàng ngày” – Online Daily Conversation Course: Tham khảo tại ĐÂY
  2. Khóa học “Tiếng Anh dành cho nhân viên ngành Ngân hàng” – English for Banking course: Tham khảo tại ĐÂY

(Các khóa học liên tục được cập nhật, các bạn cũng có thể đề xuất các đề tài học tập mà các bạn muốn MLEC phục vụ việc học của các bạn nhé.)

Bài lược dịch từ nguồn: https://blogs.worldbank.org/edutech/10-global-trends-in-ict-and-education

Bài dịch có kèm phần ý kiến cá nhân, rất mong nhận được những thảo luận mang tính xây dựng của các bạn.

______

Danh sách là một tập hợp kết quả từ các chuyên gia dự đoán như Horizon Report, quan sát cá nhân và từ một số những nguồn tham khảo khác. Danh sách top 10 xu hướng học tập với công nghệ trên thế giới gồm có:

  1. Học trên thiết bị di động (Mobile Learning). Cuộc cách mạng “điện thoại thông minh” (smartphones) đang biến thiết bị nhỏ gọn ấy trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta. Giống như điện thoại di động đã từng thay thế điện thoại dây trong ngành công nghiệp viễn thông, một thiết bị di động cầm tay với khả năng truy cập internet và nhiều những tính năng của một chiếc máy tính cá nhân khác sẽ sớm biến smartphone trở thành một công cụ học tập trong lớp.
    ___
    MLEC: Hiện tại ở Việt Nam, việc học tập cũng đang manh nha trở thành một xu hướng khi việc thực hiện bài tập về nhà, nộp bài, chấm điểm, báo cáo,…cũng đang được thực hiện trên chiếc điện thoại thông minh cầm tay. Tuy nhiên việc sử dụng một chiếc smartphone để học tập cũng đang đứng trước nguy cơ về những “hoạt động gây xao nhãng” (distractions) khác. Và một yếu tố quyết định tính hiệu quả của chương trình này chính là tính tự giác của học sinh Việt Nam, vốn còn thiếu và yếu.
  2. Điện toán đám mây (Cloud computing). Các ứng dụng di động nói chung và ứng dụng học tập nói riêng đang giúp kết nối những chiếc máy tính để bàn đơn độc với nhau tạo thành mạng lưới cộng đồng rất lớn thông qua internet. Tác động tiềm năng của xu hướng này đối với việc học tập trong thời đại mới là rất lớn, vì nó sẽ làm cho việc tiếp cận thông tin trở nên đơn giản, gọn nhẹ hơn mà không cần đến một chiếc máy tính cá nhân (PC) cồng kềnh nữa. Nếu có thể thì xu hướng này sẽ đem đến sự kết nối đồng thời tới phần thông tin trên “đám mây” cùng lúc từ nhiều nơi.
    ___
    MLEC: Theo quan sát và đánh giá của cá nhân mình, việc sử dụng “cloud computing” hiện tại ở Việt Nam cũng đã khá phổ biến, trong đó có một số ứng dụng nổi tiếng như Dropbox (tham khảo tại đây), Google Drive, OneDrive (của Microsoft)… Tuy nhiên, tính ứng dụng trong giảng dạy trực tiếp vẫn chưa có nhiều và phổ biến do nền tảng hạ tầng công nghệ còn cần được nâng cấp. (có Google Classroom của Google, các bạn quan tâm có thể tham khảo).
     
  3. Kết nối 1-1 (one-to-one computing). Xu hướng học tập toàn cầu là tạo ra một nguồn thông tin cho tất cả người học và đem đến một môi trường học tập với tính ứng dụng công nghệ đạt mức tối đa. Không quan trong việc phần cứng được kết nối là một máy tính một người, hoặc, như xu hướng hiện tại, một mạng lưới máy tính, điện thoại thông minh, hoặc sự tái xuất hiện của tablet, các lớp học cũng nên chuẩn bị sẵn sàng cho sự kết nối của các thiết bị học tập cá nhân.
    ___
    MLEC: Đối với việc này thì MLEC không có nhiều ý kiến, chỉ đơn giản là thấy việc tận dụng các tính năng của một thiết bị công nghệ phụ thuộc rất nhiều vào người dùng, tuy nhiên cũng không thể kể đến việc thiết kế ra những tính năng “không thể từ chối” của các application suppliers. Khi có một chương trình định hướng tốt, học liệu tốt, người học sẽ dễ dàng hơn trên “con đường đi học” của mình.
  4. Học tập đồng thời (Ubiquitous learning). Với sự gia tăng của cơ sở hạ tầng công nghệ, những kết nối mạnh mẽ hơ, máy tính rẻ hơn, hệ thống trường học trên toàn thế giới đang phát triển khả năng cung cấp cơ hội học tập cho học sinh “mọi lúc, mọi nơi”. Xu hướng này đòi hỏi việc cân nhắc điều chỉnh các tiết học 40 mins truyền thống thường thấy. Thêm vào đó là câu chuyện phần cứng và kết nói internet, nó đòi hỏi sự sẵn có của các giáo viên hướng dẫn, và/hoặc cơ hội để học viên tự học, tự giúp nhau học tập.
    ___
    MLEC: Giá trị của việc học tập này đảm bảo sự công bằng trong học tập, để các bạn học viên có cơ hội học tập theo khả năng, nói như các cụ thì sẽ là “học theo năng lực, thi theo nhu cầu”. Khi đó chúng ta có thể liên tục, đồng thời kiểm tra, khám phá và tìm cách sử dụng các tài năng. Tuy nhiên, câu chuyện để đảm bảo được sự “công bằng” mang tính đồng bộ này lại vẫn phụ thuộc vào câu chuyện vị trí địa lý. Dẫn chứng từ nỗ lực của FB đem internet connection tới mọi nơi đó mọi người… (ai không biết thì google nhé, chủ động học tập có lẽ phải được bàn tới trước cả khi nói về số 1)
  5. Chơi mà học (Gaming). Một nghiên cứu mới đây của dự án Pew Internet và American Life đã chỉ ra rằng hầu hết các game thủ đều trẻ, và game mang đến cơ hội gia tăng các tương tác xã hội (ảo) của họ và “civic engagement” giữa những người trẻ (chỗ này không biết nên dịch sao cho xứng, mọi người chỉ giáo). Sự thành công mang tính hiện tượng của việc chơi mà học với một tinh thần chủ động khám phá, cùng với sự khuyến khích mang tính động lực làm nảy sinh ý tưởng rằng các phương pháp giáo dục hiện tại đang không thể “về đích” và rằng các game giáo dục có thể thu hút sự chú ý và niềm yêu thích của học viên một cách hiệu quả hơn chăng.
    ___
    MLEC: Không thể phủ nhận rằng có những bạn trẻ chơi game rất giỏi và học cũng rất khủng, mình cũng có một thằng bạn chơi game gì phá đảo game đó, học đâu nhớ đó, nhất là mấy môn tư duy logic, nó thực sự rất thông minh, nhưng game nó chơi hình như không có cái nào là game giáo dục cả. Ở Việt Nam cũng có kha khá các tựa game giáo dục cho học sinh tiểu học, và rất nhiều tựa game được các game thủ đặt tên là game giáo dục khi bố mẹ hỏi chuyện. Nhưng chưa có một nghiên cứu thực sự chứng thực mối quan hệ tương quan giữa việc sử dụng game giáo dục và kết quả học tập nói chung, kết quả học tập ngoại ngữ nói riêng của học viên. Tuy nhiên, khi dung hòa quan điểm cá nhân “học hết mình chơi hết sức” với việc “học tập là phải vui vẻ” (happy teachers -> happy teaching -> happy learners -> happy learning), thì mình thấy việc sử dụng các công cụ mang tính chơi mà học trong đào tạo, giáo dục là một yếu tố mang tính bổ sung, chứ không thể là công cụ chính, duy nhất (main player) trong việc đạt được một mục tiêu học tập nào đó được. Bạn nào có hứng thú thảo luận sẽ hội đàm trực tiếp sau nhé.
  6. Cá nhân hóa học tập. (Personalized learning). Các hệ thống giáo dục trên thế giới đang tăng cường đầu tư cho việc sử dụng công nghệ để hiểu hơn về việc học tập của học viên dựa trên việc học tập trong quá khứ và để định hướng việc giảng dạy nhằm chỉ ra sự khác biệt giữa dạy, học cũng như phong cách học tập (learning style) của học viên. Sự nhấn mạnh này chuyển đổi mô hình lớp học từ lấy việc dạy làm trọng tâm chuyển sang việc điều chỉnh nội dung giảng dạy cho phù hợp với nhu cầu của học viên – giỏi và yếu.
    ___
    MLEC: Đối với việc cá nhân hóa học tập, đây là một xu hướng nữa nhằm công bằng hóa nỗ lực học tập của học viên. Việc hướng tới sự “unique” của học viên sẽ khiến cho họ được thỏa mãn ở mức tối đa. Và đó là lý do các sản phẩm giáo dục luôn đặt việc personalized learning lên thành một unique selling point (USP). Một việc nữa để chia sẻ góc nhìn của việc cá nhân hóa tiến trình học tập, tốc độ học tập, đề tài học tập yêu thích cũng như việc giúp cho học viên thấy rằng mình đang được (toàn tâm) toàn ý học tập. Nhưng chính điều này đôi khi sẽ khiến học viên cảm thấy mất định hướng trong học tập, trong khi đây vốn là một trong những điểm yếu của học viên Việt Nam bao gồm tinh thần tự giác, định hướng học tập, sự kiên trì theo đuổi phương pháp học tập. Anw thì việc cá nhân hóa học tập là một con dao hai lưỡi có thể giúp học viên yêu thích và ham học hơn, đồng thời cũng khiến học viên cảm thấy mông lung không định hướng.
  7. Định nghĩa lại không gian học tập. (Redefinition of learning spaces) Mô hình phòng học 5 dãy, mỗi dãy 6 bàn sẽ sớm trở thành “dấu tích” của một “ngành công nghiệp già nua” vì các trường học trên toàn thế giới đang nghĩ về một môi trường học tập phù hợp hơn nhằm tăng cường tính cộng tác, kỷ luật chéo (cross disciplinary), trở thành môi trường học tập lấy người học làm trung tâm. Các khái niệm như tận dụng tốt hơn ánh sáng, màu sắc, bàn tròn, không gian riêng tư cho học viên và giáo viên, và không gian học tập mở quy mô dự án sẽ được chú trọng nhấn mạnh hơn.
    ___
    MLEC: Đối với quan điểm của MLEC, môi trường học tập được coi như cái nền tảng của việc học tập. Vì tự bản thân chữ “môi trường” đã nói lên ý nghĩa của nó. Ví như một con cá ở trong một cái vũng, đầm nhỏ, thì sẽ sống theo môi trường khác với một con cá lớn trong hồ. Khoan nói về việc con nào tốt hơn con nào ở điểm nào, chỉ xét đến sự khác biệt chắc chắn có trong sự phát triển của con cá đến từ môi trường. Tương tự như việc học. Nếu một nhóm bạn ganh đua nhau học kết quả học tập của lớp chắc chắn sẽ khác so với việc một lớp học với không khí uể oải, chán nản.
  8. Nội dung mở giáo viên tự chọn. (Teacher-generated open content). Hệ thống trường OECD ( ) đang trao quyền cho giáo viên và cộng đồng các giáo viên được nhận diện và tạo ra các nguồn học liệu mà họ thấy hiệu quả nhất đối với lớp học của họ. Rất nhiều học liệu trực tuyến cho phép thầy cô chỉnh sửa, thêm vào, lược bớt và thậm chí được cá nhân hóa học liệu theo mục đích cụ thể, do đó có thể giúp học viên nhận được những tài liệu với tính xác thực cao, phù hợp với sở thích, nhu cầu của học viên cũng như các đòi hỏi của khóa học. Những nguồn học liệu này trong nhiều trường hợp là phần bổ sung cho những cuốn sách giáo khóa và có thể, trong những năm tới, sẽ thay thế sách giáo khoa để trở thành nguồn tài liệu giảng dạy chính cho học sinh. Các hoạt động như vậy thách thức các ý niệm truyền thống về quyền sở hữu trí tuệ.
    ___
    MLEC: Đứng trên quan điểm của một giáo viên dạy tiếng Anh, cá nhân mình đồng tình với xu hướng này. Và hết lòng ủng hộ. Tuy nhiên, việc này đứng trên nhiều khía cạnh có những ý kiến trái chiều nhau, và một trong những ý kiến mang tính quan ngại lớn nhất liên quan đến động lực của người thầy. Thầy cô đi dạy không đủ ăn thì còn phải lo kiếm tiền chứ làm gì có thời gian mà nghiên cứu và tìm tòi tài liệu. Đúng, nhưng chưa đủ. Cái tâm của người thầy nghĩ về học trò, về những bài giảng của mình, sự thành công của học trò để làm động lực tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh. Đúng nữa, nhưng vẫn lại chưa đủ. Vì cơm áo gạo tiền là một nỗi lo rất lớn có thể không phải ai cũng trải qua đủ để hiểu cái khó của người trong cuộc. Nhưng hơn hết, để nói về tương lai của một người thầy tâm huyết, việc có được những thế hệ học sinh thành tài, tôi tin những người thầy cô đó sẽ không phải sống quá khó khăn với nỗi lo kinh tế.
  9. Đánh giá hồ sơ năng lực thông minh (Smart portfolio assessment). Dùng từ này có lẽ khó có thể diễn tả hết nghĩa gốc của từ tiếng Anh. Nhưng nó bao gồm những bộ sưu tập, những sản phẩm được tạo ra trong và sau quá trình học tập của học viên sẽ giúp giáo viên hiểu rõ hơn lỗ hổng kiến thức của học trò và điều chỉnh nội dung học tập cũng như phương pháp tiếp cận trong giảng dạy. Bên cạnh đó, việc chuyển dần sang đánh giá thường xuyên sẽ giúp chúng ta có được dữ liệu đánh giá theo thời gian thực, và giảm bớt áp lực thi cử cho học sinh. Công cụ thì ngày càng sẵn có cho học sinh để có thể hoàn thành một dự án, một hồ sơ năng lực trực tuyến theo nhóm, trong đó có thể là một tweet trên Twitter, comment trên blog, hoặc ảnh, hoặc bất kì dịch vụ trực tuyến nào, đều có thể xuất hiện trong hồ sơ năng lực để học sinh đánh giá lẫn nhau và giáo viên có thể đưa ra những nhận xét của riêng mình.
    ___
    MLEC: Tuyệt vời, không có gì phải bàn cãi về những ưu điểm của kiểm tra thường xuyên (formative test)so với kiểm tra cuối kỳ (summative test). Đối với hệ thống giáo dục công, việc thay đổi này là khó và không dễ để thực hiện đồng bộ trên diện rộng. Nhưng đối với hệ thống giáo dục tư nhân, chúng ta có thể làm. Vấn đề là đảm bảo được tính trung thực, hiệu quả thực hiện của những bài kiểm tra để đánh giá năng lực thực tế của học sinh. Một vấn đề tốn giấy mực và năng lượng để suy nghĩ, nhưng nếu thực sự dành thời gian để mắt tới một quá trình học tập của học sinh thì chúng ta có thể sẽ nhìn ra được việc test như nào sẽ ảnh hưởng đến việc dạy và học ra sao. Tin mình đi, thế giới gọi đó là washback (a.k.a. backwash)
  10. Giáo viên quản lý/hướng dẫn (teacher managers/mentors). Vai trò của giáo viên trong lớp học đang chuyển dần từ là một người biết tuốt để trở thành một người hướng dẫn học tập giúp đỡ học sinh tìm ra con đường học tập mang đậm dấu ấn cá nhân (phù hợp với từng học sinh), giúp học sinh nhận diện các nguồn học liệu liên quan, tạo ra cơ hội hợp tác trong học tập, và cung cấp sự thấu hiểu, sự hỗ trợ trong khoảng thời gian 40 phút trên lớp cũng như thời gian học tập ngoài lớp học. Sự chuyển đổi này nói thì dễ hơn làm và sự thành công hay thất bại của một dự án công nghệ trong lớp học phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người và sự sẵn sàng của giáo viên để bước chân vào một “khu vực ít quyền lực hơn”.
    ___
    MLEC: Đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới và có một thực tế mà tôi cho rằng đúng đó là “quyền lực” của người thầy chỉ thực sự có khi họ đem lại hiệu quả học tập cho học viên. Đó là một thứ quyền lực “mềm” có được từ khả năng thu phục lòng người. Giáo viên luôn được ví như những người lái đò, là những người giúp đỡ chính trong việc học sinh có thể “qua sông” được hay không. Giờ thì chúng ta nên coi thầy cô là những người dạy lái đò và/hoặc cho thuê đò thì có lẽ hợp lý hơn há. 
    (Nếu bạn nào coi hình ảnh người lái đò là một điều gì đó vô cùng thiêng liêng đến mức tuyệt đối không thể lay đổ không thể dùng lý trí để suy xét thì xin phép được không trao đổi cùng).

 

Trên đây là 10 xu hướng học tập trong thời đại mới, các bạn hoàn toàn có thể tìm thấy cho mình những câu trả lời riêng, những bước chuyển riêng trong phong cách học tập cá nhân mình cũng như có cơ hội quan sát sự thay đổi của cộng đồng.

Chúc các bạn học tốt.

Nếu có bất kỳ điều gì liên quan đến chủ đề này muốn trao đổi, rất hân hạnh được thảo luận cùng mọi người theo địa chỉ email: mrluu.vu@gmail.com